Sưu tầm: Nguyễn Thị Vân Kim

60 NĂM VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỆ SĨ SÂN KHẤU HÀ NỘI

PGS.TS. Trần Trí Trắc

 

1. Đạo đức – là những quan niệm, chuẩn mực, nguyên tắc, hành vi ứng xử của con người đối với con người, đối với xã hội, đối với tự nhiên và đối với chính bản thân mình.

Đạo đức không đồng nghĩa với giá trị đạo đức. Vì giá trị đạo đức phải là những quan niệm, những chuẩn mực, nguyên tắc, hành vi có ý nghĩa tích cực, mang lợi ích cao, đạt tới kết quả chân – thiện – mĩ và được mọi người đồng tình, biểu dương, hưởng ứng, noi theo để điều chỉnh, chuẩn hóa hành vi con người trong xã hội. Cho nên, đạo đức phải gắn liền với giá trị đạo đức. Như, trung quân là đạo đức, nhưng chưa phải là giá trị đạo đức. Vì trung quân có thể là “ngu trung”, “mù quáng”, có hại cho dân tộc…

Đạo đức và giá trị đạo đức luôn luôn vận động. Nhưng, dù vận động đến đâu chăng nữa thì nội hàm của nó vẫn phải là lợi ích cho xã hội, chứ không phải cho bản thân chủ thể và phải mang tính tự giác, tự nguyện, tự luật.

Hơn nữa, đạo đức phải gắn liền với hoạt động thực tiễn nghề nghiệp. Vì mỗi phạm vi hoạt động xã hội nghề nghiệp sẽ có những chuẩn mực đạo đức khác nhau. Do đó, đạo đức của anh bộ đội, của bác công nhân, của nhà thương gia… không hề giống nhau…

2. Nghệ sĩ sân khấu Hà Nội 60 năm qua, luôn luôn có hai nhân cách trong đời sống của mình. Nhân cách thứ nhất, đó là đời sống thực hàng ngày, cũng như muôn người, phải ăn, uống, hít thở, vui, buồn và quan hệ với vợ con, bố mẹ, anh em, bạn bè, đồng nghiệp, họ hàng, dân tộc… và phải có nghĩa vụ hoàn thành tốt với những mối quan hệ đó theo tinh thần của người Thủ đô (dù xuất thân của nghệ sĩ ở vùng, miền nào). Ở phạm vi đời sống này, người nghệ sĩ Hà Nội, 60 năm qua, đã không ngừng rèn luyện, vươn lên sự hài hòa giữa quyền lợi cá nhân với quyền lợi của người Tràng An, giữa bản sắc cá nhân với bản sắc của người Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội và họ đã xứng đáng là nghệ sĩ mang danh Hà Nội.

Nhân cách thứ hai, đó là đời sống của người nghệ sĩ, mang tính đặc thù, luôn luôn phải tư duy hình tượng và tiếp cận với cái mới mang tính Thủ đô, để sáng tạo ra những hình tượng sân khấu theo quy luật của cái đẹp, nhân văn, tiến bộ của Thủ đô… Ở phạm vi thứ hai này, 60 năm qua, các nghệ sĩ Hà Nội đã sáng tạo ra nhiều tác phẩm với năng lực “thổ tận can tràng” làm tấm gương cho cả nước noi theo và được khán giả bốn phương trân trọng, yêu mến.

Trong chiến tranh cách mạng, các nghệ sĩ sân khấu Hà Nội, với tư cách đạo làm người Thủ đô, đã biết sống giữ danh dự người Tràng An bằng những hành vi tự trọng “kẻ sĩ Thăng Long” của mình theo tinh thần: mình là đại biểu của cái đẹp Thủ đô để truyền đạt cái đẹp cho đời. Do đó, dù đời sống riêng còn khó khăn, sân khấu chưa được hiện đại, nhà hát chưa được nguy nga, lộng lẫy. Nhưng, họ vẫn vui vẻ mang trong mình trách nhiệm lớn “ba sẵn sàng”, “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “tiếng hát át tiếng bom” và coi sân khấu là “thánh đường”, đã xua đuổi những “bàn chân nhơ bẩn, bụi bậm, nhớp nhúa” bước lên thánh đường với phương châm: “yêu nghệ thuật mà bản thân mình mang giữ trong lòng, chứ không phải yêu bản thân mình nương náu trong nghệ thuật”1 để làm nghĩa vụ thiêng liêng “phò chính trừ tà”, “soi đường cho quốc dân đi” (Bác Hồ). Vì thế, lịch sử sân khấu Hà Nội sẽ mãi mãi sáng đẹp những tấm gương nghệ sĩ đã giáp mặt với quân thù để biểu diễn quên mình trên mâm pháo, dọc Trường Sơn, bên các hố bom khét mùi khói lửa… Họ, nghệ sĩ Hà Nội, đã mang trong mình đạo đức lớn của người Thủ đô và không thua kém gì đạo làm người của Đức Khổng Tử ngày xưa.

Còn về đạo làm nghệ sĩ, họ đã luôn luôn bám sát hiện thực cách mạng, sáng tạo ra nhiều tác phẩm mới với những hình tượng con người mới, cuộc sống mới và làm gương cho nghệ thuật sân khấu cả nước, để thể hiện chân thực những bước đi của dân tộc, từ đói nghèo, phong kiến, lạc hậu, vượt qua bom đạn chiến tranh khốc liệt, vươn tới độc lập, tự do, làm thành một nền sân khấu Thủ đô đứng ngang hàng với bất kỳ nền nghệ thuật sân khấu tiên tiến nào trên thế giới. Họ, nghệ sĩ sân khấu Hà Nội, có đạo làm người, đạo làm nghệ sĩ vinh quang, tự hào.

3. Đất nước bước vào cơ chế thị trường đã làm cho toàn xã hội nói chung và Thủ đô nói riêng đổi mới trên tất cả các lĩnh vực đời sống con người. Làn sóng toàn cầu hóa cùng với những bước phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ hiện đại, bên cạnh những mặt tích cực, thì mặt trái cũng đã và đang tác động mạnh mẽ tới đạo đức truyền thống, làm cho hệ giá trị đạo đức cách mạng biến động. Đó là, mọi hoạt động kinh tế thành kinh doanh, mọi hoạt động nghề nghiệp thành lợi ích và nhiều trường hợp, người ta chỉ chú ý đến lợi ích vật chất, lợi ích cá nhân hơn là giá trị tinh thần, giá trị cộng đồng. Yếu tố kinh tế đã trở thành động lực làm thay đổi cấu trúc hệ đạo đức xã hội và hiệu quả kinh tế cũng đã trở thành thước đo nhân cách, tài năng con người. Vì vậy, cơ chế thị trường, đối với nghệ thuật sân khấu Hà Nội, đã và đang là một “chiến trường” khốc liệt.

Mặc dù khốc liệt như vậy, nhưng các nghệ sĩ sân khấu Hà Nội vẫn giữ được “đạo đức kép” trong mình với những giá trị cao đẹp của người Thủ đô, vẫn không bị “thương mại hóa” biến chính phẩm thành thứ phẩm. Bởi vì, họ hiểu rằng, nghệ thuật sân khấu và thương mại tuy cùng tồn tại trong cơ chế thị trường, nhưng chúng không đồng tâm, đồng lý, đồng chiều. Thương mại bao giờ cũng hướng tới lợi nhuận vật chất, còn sân khấu lại tuân theo quy luật của giá trị tinh thần, giá trị thẩm mĩ, giá trị nhân văn với những cảm xúc cao… thành vật phẩm thiêng liêng để trao tặng, trao truyền chứ không phải là hàng hóa để trao đổi. Cho nên, họ đã chấp nhận “cạnh tranh khốc liệt” bằng giải pháp sáng tạo công phu, lao động hết mình, để có nhiều tác phẩm đỉnh cao chính phẩm mang cái mới cho nghề và cái mới cho đời. Nghệ sĩ Hà Nội đã trụ được với cơ chế thị trường, đã tạo ra được phong cách sân khấu Thủ đô và đã đem lại niềm tin yêu cho khán giả cả nước. 60 năm đã qua, sân khấu Hà Nội đã thiết lập được hệ giá trị đạo đức mới của nghệ sĩ Thủ đô trong đạo đời đạo nghề. Nhờ đó, sân khấu Hà Nội đã và đang tồn tại, phát triển theo khuynh hướng: thanh lịch, trí tuệ, hoành tráng và hiện đại.

4. Nghệ sĩ sân khấu Hà Nội không giống với bất kỳ nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ nào. Vì, họ sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật bằng chính thể xác, tâm hồn, trí tuệ, cảm xúc của họ. Họ vừa là chủ thể sáng tạo và lại là công cụ, phương tiện, khách thể để sáng tạo. Họ vừa tài sản vốn có và không thể lưu giữ, trao truyền, buôn bán cho ai được trong thời gian hữu hạn của tuổi thanh xuân. Do vậy, thể xác, tâm hồn, trí tuệ, cảm xúc của người nghệ sĩ Hà Nội đã trở thành “vật báu” vô giá của nghệ sĩ của nghệ thuật sân khấu Hà Nội và đòi hỏi nhà quản lý sân khấu Hà Nội phải biết chăm lo cho cả hai phần đời sống của “vật báu” vô giá đó. Nghệ sĩ sân khấu Hà Nội, từ bản chất sâu thẳm, không ai muốn “tự tha hóa”, “bị tha hóa” trong cơ chế thị trường, mà ngược lại, ai ai cũng khát khao được “có danh, có giá” đích thực với đời, với nghề. Vì thế, không phải ngẫu nhiên, khi Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương - 981 trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, các nghệ sĩ Hà Nội đã “hướng về biển đảo”, “vì biển đảo thân yêu” và đã diễn hết mình để được thể hiện cảm xúc sâu xa nhất của người Thủ đô đối với vận mệnh non sông, để đòi Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi lãnh hải Việt Nam.

Nghệ thuật sân khấu không thể thiếu tài năng – ngôi sao. Tài năng – ngôi sao là cơ sở để tạo ra những hình tượng đỉnh cao. Không có tài năng – ngôi sao thì nghệ thuật sân khấu không có hình tượng đỉnh cao nào cả. Do đó, trong nghệ thuật sân khấu cần có đạo đức trọng thị ngôi sao. Đạo đức trọng thị ngôi sao chính là chân giá trị của một nền văn hóa đỉnh cao biết trân trọng “nguyên khí quốc gia”.

Mặt khác, nghệ thuật sân khấu là loại hình tổng hợp. Loại hình quy định không thể một người, một ai, một tài năng tuyệt đỉnh nào có thể làm nên sân khấu, mà phải có tập thể với nhiều mối quan hệ đồng sáng tạo. Nghĩa là, ngôi sao phải có bầu trời, tài năng phải có tập thể và tập thể phải được biểu hiện bằng ngôi sao. Ở đây, nghệ thuật sân khấu Hà Nội phải có đạo đức trọng thị tập thể. Vì, tập thể và chỉ có tập thể mới làm nên loại hình nghệ thuật sân khấu, là nền tảng cho mọi ngôi sao.

Đạo đức trọng thị ngôi sao và đạo đức trọng thị tập thể là hai mặt vừa tồn tại độc lập, lại vừa thống nhất biện chứng với nhau trong đạo đức nghệ sĩ sân khấu Hà Nội ở cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế hôm nay. Đạo đức kép này bắt nguồn từ đạo đức truyền thống cách mạng “mỗi người vì mọi người và mọi người vì mỗi người”. Hôm nay, nó cần được phát huy bằng những chính cách cụ thể của Nhà nước để phù hợp với cơ chế đổi mới đương thời.

Bằng đạo đức kép này và giá trị đích thực của nó, nghệ thuật sân khấu Hà Nội mới hy vọng có nhiều hình tượng đỉnh cao mang tầm Thủ đô và thời đại.