Sưu tầm: Phạm Thị Thanh Hương
BÀN VỀ CÔNG NGHIỆP SÂN KHẤU
Tác giả: PGS.TS Trần Trí Trắc
1. Từ lâu trên thế giới đã xuất hiện khái niệm công nghiệp hóa và gần đây thường xuyên xuất hiện trong các nghị quyết của Đảng, quyết định, nghị định, chỉ thị, thông tư của các bộ, ngành liên quan đến lĩnh vực văn hóa. Như, Nghị quyết số 33-NQ/TW đã nêu “Nhiệm vụ phát triển công nghiệp văn hóa…” và Quyết định số 1755/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 v.v…
Nội hàm về công nghiệp văn hóa, mỗi quốc gia có quan niệm riêng, nhưng theo UNESCO thì đây là thuật ngữ chỉ các ngành công nghiệp mà có sự kết nối giữa sáng tạo, sản xuất và thương mại hóa các sản phẩm văn hóa (vật chất và phi vật thể) và các nội dung sáng tạo được bảo vệ bản quyền. Khái niệm công nghiệp – liên quan đến sản phẩm hàng hóa, còn khái niệm văn hóa – thường diễn đạt ý niệm trừu tượng về giá trị.
Trong chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam quan niệm: “Công nghiệp văn hóa là số ứng dụng những tiến bộ khoa học – công nghệ và kỹ năng kinh doanh sử dụng năng lực sáng tạo, nguồn vốn văn hóa để tạo ra các sản phẩm dịch vụ văn hóa, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ văn hóa của người dân”. [1]
Như vậy, công nghiệp văn hóa là sự kết hợp giữa khoa học – kỹ thuật với sáng tạo của con người trong lĩnh vực văn hóa. Nó thể hiện sự gắn kết giữa văn hóa với kinh tế và văn hóa là nội lực cho phát triển kinh tế. Trong phạm vi ngành nghề, công nghiệp văn hóa bao gồm: sáng tạo biểu diễn nghệ thuật, phát hành – xuất bản, phát thanh – truyền hình, điện ảnh, video, quảng cáo… Thông qua chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã xác định mục tiêu cụ thể là: “Phấn đấu doanh thu của ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 3% cho GDP và tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội. Điện ảnh đạt 150 triệu USD, nghệ thuật biểu diễn đạt 16 triệu USD, mĩ thuật, mhiếp ảnh, triển lãm, quảng cáo đạt 1,500 triệu USD, du lịch văn hóa chiếm 10-15% trong số 18.000 triệu USD…
Từ thực tiễn hoạt động công nghiệp văn hóa, Việt Nam, năm 2019, được lọt vào tốp 60 nền kinh tế sáng tạo nhất thế giớ. Ở đấy, các ngành công nghiệp văn hóa cũng tăng trưởng mạnh mẽ, không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế mà còn thúc đẩy, quảng bá các giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới, như lĩnh vực ẩm thực (phở, bánh xèo, cà phê phin), trang phục (áo dài, nón lá…), điện ảnh mang lại doanh thu “khủng” là Hai Phượng, Bố già… Tổng doanh thu màn ảnh Việt năm 2019 trên 4,1 nghìn tỉ đồng…
Nhìn sang các quốc gia khác như Nhật, Hàn thì công nghiệp văn hóa của họ được phát triển mạnh mẽ, đã góp phần doanh thu hàng năm tới 7%.
Như vậy, công nghiệp văn hóa đã cân bằng giữa giá trị văn hóa với giá trị kinh tế, đã thống nhất giữa thị hiếu thẩm mĩ với nhu cầu hưởng thụ thẩm mĩ và đã giải quyết được nhu cầu việc làm, nhu cầu làm giàu cho cá nhân và xã hội. Do đó, Đảng đã khẳng định “Công ngiệp văn hóa đang là xu thế lớn và quan trọng trong chính sách văn hóa của các nước trên thế giới”[2], nên đã tiến hành xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật nhằm tạo hành làng pháp lý, như: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật sở hữu trí tuệ và các qui định luật chuyên ngành: Điện ảnh, Du lịch, Quảng cáo và các nghị định hướng dẫn chuyên ngành: nghệ thuật biểu diễn, mĩ thuật, nhiếp ảnh v.v…
2. Chúng ta đều biết, công nghiệp văn hóa, nói cho cùng là khoa học – kỹ thuật đưa văn hóa thành hàng hóa và gắn văn hóa với kinh tế. Qua thực tế của Việt Nam và Thế giới chúng ta nhận thức được rằng: nhiều chuyên ngành của văn hóa có thể thực hiện được mục tiêu công nghiệp văn hóa, như: Ẩm thực, Điện ảnh, Ca, Múa, Nhạc, Video, Mĩ thuật, Nhiếp ảnh, Triển lãm, Quảngc, Du lịch… còn nghệ thuật sân khấu thì cần phải suy tính. Bởi vì, trước hết, nghệ thuật sân khấu không phải là hàng hóa, dù là hàng hóa đặc biệt, ở nó, không thể tính được giá trị sử dụng của hình tượng tổng hợp trong cả nội dung lẫn hình thức; không tuân theo qui luật cung cầu và cạnh tranh của hàng hóa trong thị trường, không thể xác định được giá cả trong từng sản phẩm sáng tạo trước khan giả… Chính vì vậy, đoàn kịch của Shakespears, Molie trước kia cũng như các gánh hát, tuồng, chèo, cải lương của Việt Nam ở đầu thế kỉ XX đã chứng mình cho chân lý này. Đặc biệt, các đơn vị kịch tư nhân dù có bàn tay “phù thủy” của các ông bầu ở Tp. Hồ Chí Minh hiện nay đã đem vào sân khấu của mình những “ ma ruồng”, “kinh dị, đồng tính, trinh thám, gây cười nhố nhăng, biến thể” thì vẫn vắng khán giả thảm hại, không thu đủ vốn và phải dùng đến hình thức “sân khấu bệt” diễn ở quán cà phê với trang trí, đạo cụ, phục trang, thù lao nghệ sĩ giảm tới mức tối đa mà vẫn “tụt dốc không phanh”, có nguy cơ tan rã và có một số đơn vị đã tan rã!
Mặt khác, đã là hàng hóa thì phải có lợi nhuận. Nhưng “cơm áo gạo tiền không đùa với khách thơ” (Xuân Diệu), “Văn chương hạ giới rẻ như bèo” (Tản Đà), nên Mác đã dạy: “Nhà văn phải kiếm tiền để sống và viết. Nhưng bất kỳ trường hợp nào cũng không được sống bằng viết kiếm tiền, không thể xem công việc của mình là một kế sinh nhai. Nhà văn phải biết hy sinh sự tồn tại của mình cho sự tồn tại của nghệ thuật”[3].
Như vậy, hàng hóa sinh ra để mua bán. Đã mua bán thì phải có lợi nhuận, vì lợi nhuận là bản chất của mua bán và không có hình thức mua bán nào đứng ngoài lợi nhuận, dù có những chiêu “mua một tặng mười”, khi đó, nghệ thuật sân khấu không phải là hàng hóa và, tất nhiên, không thể có cái gọi là công nghiệp sân khấu được!
