Sưu tầm: Nguyễn Quốc Toàn

CẢI LƯƠNG CÓ MỘT DÒNG CHẢY THẦM LẶNG MÀ MẠNH MẼ

 

              Hoàng Kim

 

            Người ta đang đánh giá rằng cải lương khủng hoảng, bán vé tại rạp không bao nhiêu suất. Thế nhưng, khán giả có phải chỉ là số người trong rạp, hay còn một phạm vi nào khác?

 

          Chính vì khó trụ lại các rạp nên các đơn vị cải lương Nhà nước bị “kêu rêu” là làm ăn không hiệu quả, tốn tiền kinh phí hằng năm. Nhưng thực ra, các đơn vị này vẫn có một lực lượng khán giả khác, thậm chí là rất lớn. Bởi đoàn Nhà nước phải lưu diễn khắp nơi để đủ chỉ tiêu phục vụ được giao mỗi năm. Nghệ sĩ Giang Mạnh Hà, trưởng đoàn cải lương Đồng Nai cho biết: “Chúng tôi nhận chỉ tiêu 150 suất/năm, nhưng năm nào cũng vượt hơn cả. Coi như trung bình hai đêm diễn một suất, mà mỗi suất thường là cả ngàn người xem”. Đoàn Đồng Tháp, Cà Mau, Long An, Nhà hát Trần Hữu Trang… chỉ tiêu cũng xấp xỉ như thế. Sở dĩ có lượng khán giả cao vì các đoàn chịu khó về vùng sâu vùng xa, thậm chí ra miền Trung, miền Bắc, đến tận các hòn đảo, các đơn vị quân đội, trại giam, nhà máy… diễn cho bà con nghèo hoặc bộ đội, công nhân, phạm nhân. Giá vé rất rẻ, trung bình từ 15-20.000đ, hoặc đơn vị mua dàn trọn gói chỉ trên dưới 10 triệu là xong.

Dĩ nhiên, đoàn tỉnh thì diễn viên chỉ vừa vừa mà thôi, có người đoạt giải Trần Hữu Trang hoặc giải nào đi nữa thì cũng không phải là “ngôi sao”. Nhưng nói thật tình, “ngôi sao” dễ gì chịu về những nơi này, mà có về thì ông bầu cũng không trả nổi cát-xê, nên sự có mặt của các đơn vị nhà nước trở thành đáng quý. Họ lặng lẽ làm nhiệm vụ “xoá đói” văn hoá cho khán giả nơi ấy, lặng lẽ giữ cho cải lương chảy trong lòng người. Khán giả vẫn yêu mến họ, nên mỗi năm các đoàn thường “đến hẹn lại lên”, trở lại địa phương biểu diễn.

Anh Minh Mẫn trưởng đoàn Đồng Tháp chia sẻ: “Chúng tôi diễn tại các trại giam, có nhiều “anh chị” đang là phạm nhân, họ còn “nổi tiếng” hơn nghệ sĩ chúng tôi vì báo chí đăng tin đăng ảnh rầm trời. Mới đầu chúng tôi cũng ớn lắm. Không ngờ, mấy chị đã phân công nhau đi hái hoa rừng từ hồi chiều, khi chúng tôi diễn xong là mấy chị kéo lên tặng hoa, làm chúng tôi cảm động quá chừng. Đó là những khán giả đặc biệt, nếu đoàn Nhà nước không về với họ thì ai sẽ về? Cho nên chúng tôi rất vui vì nghĩ mình vẫn có ích cho khán giả chứ không phải xài đồng tiền kinh phí một cách vô nghĩa”.

Anh Giang Mạnh Hà cũng nói: “Công nhân tiền lương thấp làm sao mua nổi cái vé năm bảy chục ngàn. Chúng tôi về diễn, họ mừng lắm. Rồi anh em bộ đội nữa, họ xem cải lương bằng cả trái tim. Những đối tượng này rất đáng cho mình phục vụ, chứ chờ các ngôi sao thì biết đến bao giờ”. Rõ ràng, đoàn Nhà nước vẫn làm ăn hiệu quả theo một cách khác chứ không hoàn toàn là gánh nặng bao cấp.

          Nhưng vấn đề ở đây là khái niệm “khán giả” được hiểu theo một nghĩa khác. Ông Lê Duy Hạnh, Chủ tịch Hội Sân khấu TP.HCM, nói: “Khán giả thường được hiểu là những người chịu mua vé đến xem biểu diễn chứ không phải những người được xem miễn phí. Sân khấu hấp dẫn họ như thế nào để họ chịu bỏ tiền ra, thì họ mới đích thực là khán giả. Nghĩa là sân khấu phải tham gia thị trường. Làm nhiệm vụ xoá đói văn hoá là đúng, nhưng quan trọng là chúng ta tổ chức thế nào để đừng nhập nhằng giữa thị trường và phục vụ, thì mới đánh giá được lượng khán giả”.

Chính vì thế, đặt ra thêm một bài toán về tổ chức đơn vị nghệ thuật sao cho họ vẫn sống được, vẫn có nhiệm vụ cụ thể, mà vẫn không bị kêu rêu là sử dụng kinh phí nhà nước, là “bú vú mẹ” quanh năm. Vấn đề nằm ở chỗ người quản lý. Hiện nay chúng ta đang thiếu những người quản lý giỏi như thời Dạ Lý Hương, Thanh Minh-Thanh Nga, Kim Chung, Kim Chưởng… Đành rằng bây giờ cải lương có quá nhiều loại hình cạnh tranh, nhưng không có nghĩa là triệt hết mọi đầu ra, là mất khán giả. Khán giả vẫn còn đó, nhưng làm sao len lỏi được vào lòng họ? Ngoài việc cải tiến cải lương sao cho phù hợp thời đại, còn phải tìm ra cách thức tiếp cận khán giả. Một nhà kinh doanh nổi tiếng thế giới có nói câu: “Tôi tạo ra sản phẩm, còn quý vị gắn cho nó một câu chuyện”. Bản thân sản phẩm chỉ là một nửa thành công, thành công còn lại thuộc về cách thức tiếp cận sản phẩm. Chính vì vậy cần người quản lý giỏi.

 

Đương nhiên Nhà nước vẫn không thể buông tay cho cải lương “tự bơi” được. Nhà nước vẫn phải hỗ trợ, nhưng hỗ trợ bằng cách nào để cho các đơn vị phải có sức bật tự thân chứ không ì ạch, thụ động. Tìm ra “chìa khoá” này thì các đoàn cải lương Nhà nước sẽ vững vàng trên cả đôi chân phục vụ-doanh thu, chứ không còn “mang tiếng” nữa.

Nhưng, nói cho cùng, dù người xem có bỏ tiền ra hay được miễn phí, thì tác phẩm sân khấu cũng đã đến với họ, cũng có tác dụng văn hoá, hơn là bỏ trống trận địa. Và cải lương vẫn sống mạnh mẽ nhờ dòng chảy thầm lặng này, không thể không ghi công.