Sưu tầm: Nguyễn Thị Lệ Chi

“CỤ ĐẠI LỢI” HỒI ỨC VỀ QUẪN CỦA LỘNG CHƯƠNG

                                                                                                  Song Kim

Tin vui về kết quả sáng tác của anh chị em viết kịch đã đạt được trên 20 vở kịch chuẩn bị ra mắt nhân dân, đóng góp vào bản anh hùng ca của cả dân tộc đang quyết chiến và quyết thắng. Có đảng lãnh đạo với vũ khí sắc bén và đang được rèn cho ngày một thêm sắc bén, chúng tôi lên đường biểu diễn với tinh thần của người chiến sĩ trở về trận địa.

Những kinh nghiệm về cuộc đời và nghệ thuật của tôi, tôi đã gửi gắm vào những vai kịch tôi đóng trong thời gian từ 1955 tới 1971. Đó là những vai Na-ta-si (trong vở Hàng ngũ hòa bình, kịch Liên Xô), vai bà Khả trong Đầu sóng ngọn gió của Nguyễn Hùng), vai bà Mạo (trong Một đảng viên của Học Phi), vai bà Gô-nôt-xtai-ep-va (trong Liu-ba), vai Má Năm (trong Người vợ miền Nam của Phạm Ngọc Truyền), vai người yêu thứ nhất của Xec-đuc (trong Câu chuyện Iêc-cut của Ac-bu-dôp), vai bà Ma-ri-a (trong Pla-tôn Crê-tret của Cooc-nây-truc), vai mẹ Vịnh (trong Đêm mưa của Tất Đạt), vai má Năm (trong Đâu có giặc là ta cứ đi của Ngô Y Linh), vai cụ Thà (trong Đôi bạn của Thanh Hương), vai mẹ Mai (trong Lửa hậu phương của Kính Dân), vai mẹ Nguyên (trong Quê hương Việt Nam của Xuân Trình)...

Vai cụ Đại Lợi trong Quẫn là một trường hợp hiếm hoi đặc biệt của tôi. Đó là một vai hài kịch, diễn tả một bà già tư sản cay nghiệt, tham lam mà mộ đạo Phật, một vai “phản diện” vốn không phải loại vai tôi thường hay đóng, nhưng đã được đồng nghiệp và khán giả rất thích, coi là một vai kịch xuất sắc của tôi.

Khai thác chất trào lộng, thông minh sắc sảo của kịch bản, một kịch bản được viết bằng một ngòi bút già dặn, am tường rất vững các thủ pháp hài kịch lẫn những mẫu người sinh động trong cuộc sống cũ, tôi đã tìm hiểu, bồi đắp, xây dựng nên một bà cụ Đại Lợi điển hình cho những bà cụ cay nghiệt, tham lam mà tôi đã gặp. Tính chất phóng đại ngoa ngoắt mà vẫn dựa trên cơ sở hiện thực vững chắc của sân khấu dân tộc đã giúp tôi tạo nên hình dáng cử chỉ, lời ăn, tiếng nói của vai kịch. Tất cả những gì đã làm tôi từng sợ hãi, khinh ghét: thói tham tiền, sự giả dối, hách dịch, cay độc, óc sùng bái những tín ngưỡng u mê, tôi đã phản bác lại kịch liệt bằng cách tạo nên những tiếng cười chế giễu rầm rộ của khán giả với cụ Đại Lợi.

Cụ Đại Lợi xuất hiện trên sân khấu, một cụ bà đã ngoài 60 nhưng còn tráng kiện, to béo. Hai má chảy xệ, xoa phơn phớt một lượt phấn trắng bệch, tóc bạc, khăn tam giang, đeo kính gọng vàng, áo dài voan màu gạch cua, quần lụa hoa, chân đi hài mỏ phượng đen, tay cầm nón dứa, tay cầm tráp trầu bạc, một cỗ tràng hạt hổ phách móc ở ngón tay út...

Bà cụ Đại Lợi lừ lừ tiến ra. Tôi cố tạo cho khán giả cảm giác về một cụ Đại Lợi như một thế lực đã lỗi thời, một mẫu người cổ lỗ, lạc lõng, vẫn tưởng mình còn nguyên vẹn oai phong, có quyền xét nét, đe nẹt mọi người, nhưng thực ra chỉ còn là một cái gì rất lố bịch, buồn cười. Bà cụ Đại Lợi phải là một biểu tượng hài hước về một xã hội chất đầy những vô lý, khắt khe, hợm hĩnh và giả dối, u mê; một xã hội đã tàn tạ và không thể nào chấp nhận được. Mác nói hài kịch giúp cho “nhân loại rời bỏ quá khứ một cách vui vẻ”. Căm ghét cái quá khứ phi lý mà mẹ tôi, tuổi trẻ của tôi đã phải chịu, tôi đã làm cho vai kịch của mình tạo nên những tiếng cười có khuynh hướng rõ rệt, không phải tiếng cười giải trí chung chung vô mục đích. Muốn vậy, người diễn viên đóng hài kịch phải cố giữ cho vai kịch của mình ở một liều lượng cần thiết, phóng đại nhưng không quá đáng, không mất đi vẻ chân thực cần thiết.

Tôi tạo cho cụ Đại Lợi có một giọng nói rin rít như vừa nói vừa nghiến răng, ngọt nhạt nhưng riết róng, chì chiết. Đôi mắt của bà ta luôn lườm lườm, có lúc long lên hiểm ác, nhưng vẫn trì độn, u mê – đôi mắt của một cụ bà nhà giàu thích ăn chay niệm Phật.

Thúy Trinh, con ông Đại Cát, cháu nội của cụ Đại Lợi, cùng với người yêu của cô – tức Hùng – đang trò chuyện trong nhà thì cụ Đại Lợi về. Cụ nghiêm lạnh, đằng hắng: “Hừ... ừm!”. Hai người giật mình quay lại.

Thúy Trinh – A... bà đã về ạ! Thưa bà, cháu cũng vừa ở công trường xây dựng về ạ!

Cụ Đại Lợi (Tiến ra , nói buông từng tiếng, mát mẻ và mỉa mai) Thế hả... Cháu đã được tha về đấy à?

Thúy Trinh (vừa định gỡ nón cho cụ Đại Lợi, chững lại) – Thưa bà cháu đi tham gia thực tế lao động với cả trường... (Đưa mắt nhìn Hùng lắc đầu).

Hùng – Lạy cụ ạ!

Cụ Đại Lợi (Lừ lừ quay lại) – Ai đấy nhỉ? ... A, cậu Hùng! Cậu phải đưa đi làm đường cũng đã được tha về đấy à? (Hùng nhíu mày đứng im).

Thúy Trinh (Nén sự bực bội , nhẹ nhàng) – Bà đưa cháu cất nón ạ! Bà đi lễ chùa sớm thế ạ?

Cụ Đại Lợi (Đủng đỉnh leo lên sập, ngồi xếp chân bằng tròn, xòe quạt phe phẩy) – Tụng xong khóa kinh “Mạt kiếp” thì về, hôm nay thượng tọa se minh, sư ông thay nên không được minh mẫn lắm... (Với Hùng) Thế cậu Hùng đã gặp ông bà ấy chưa?

Hùng – Thưa cụ... cháu cũng vừa đến để chào cụ và ông bà...

Cụ Đại Lợi (Vẫn sẽ sàng) – Vẽ vời chào hỏi làm gì! Các người ngày nay tự do tự quyền, các người có cần gì đến điều đáo gia hữu thỉnh... Xưa nay có mời thì mới đến, mà...

Thúy Trinh – Thưa bà... Cậu cháu mời anh Hùng đến...

Cụ Đại Lợi (Ngắt luôn) – Cháu ơi! Dòng họ Đại nhà này mấy mươi đời nay chưa thấy ghi trong gia phả người nào làm giặc cả... Đến bây giờ mới nảy nòi ra cháu làm nữ tặc đấy.

Thúy Trinh – Thưa bà, cháu làm gì mà bà bảo cháu làm nữ tặc ạ!

Cụ Đại Lợi (Lừ mắt nhìn chéo Thúy Trinh, chờ Trinh nói xong, ngọt như không) – Đã là con nhà gia giáo thì công dung ngôn hạnh, tứ đức phải lấy làm đầu:

          Lời ăn tiếng nói đoan trang

Nết na thùy mị dịu dàng cho cân

Khi ngồi chớ có động chân

Khi đi chớ có động quần lả lơi

Khi vui chớ có cả cười

Khi giận chớ có cả lời đành hanh!

Thúy Trinh (Vừa bực vừa bật cười) – Thưa bà, bà đưa ra một mẫu người thật đúng là phòng khuê kín cổng, liễu yếu đào tơ... chuyên dùng vào cái việc nâng khăn sửa túi. Thưa bà, cái mẫu người phong kiến ấy hết thời đã lâu rồi ạ!

Cụ Đại Lợi (Trong khi Trinh nói, quay đi ra bộ không thèm nghe, khi Trinh nói đến chữ “hết thời”, liền quay lại, nói mỗi lúc thêm riết dóng, đay nghiến, tức tối hơn) – Phong kiến hết thời rồi ư con? Hừ! Thử hỏi không có phong kiến thì bà nội con đây, bố mẹ con kia có được lịch sự nề nếp như thế này không? Phong kiến hết thời rồi nên con gái hơ hớ ra mới mặc áo cộc, quần chẽn, hai cái vú bằng hai quả dừa, hai cái mông bằng hai cái giành thế kia mà cứ bày hàng ra cho thiên hạ tha hồ dòm ngó phải không con?

Vậy đấy, cụ Đại Lợi, con người thù ghét tất cả những gì mới mẻ, tươi tắn của cuộc sống mới, khư khư bắt con cháu phải giữ lấy những lễ nghĩa phong kiến cổ lỗ. Bà có vẻ sùng bái “công dung ngôn hạnh”, nhưng tâm địa bà lại vô cùng ác nghiệt. Khi Trinh, Hùng đi ra, cụ Đại Lợi nhìn theo sa sầm, rít qua hai hàm răng những lời dữ tợn: “Bà không ăn trường trai, giữ trọn đạo từ bi thì bà xé nhỏ chúng mày ra! Thật là phúc đức tại mẫu... Con mẹ nó mắt cứ như mắt con cọp cái ấy, nên mới đẻ ra nó như thế... (Tụt xuống sập) Hừ! Gia pháp nhà ai mà con gái lại đú đởn với con trai trong nhà như thế không! Hư hỏng thật rồi!”.

Đoạn kịch trên là một đoạn kịch viết rất giỏi của anh Lộng Chương. Vở Quẫn còn có nhiều đoạn sinh động, lý thú như thế, trong đó, vai cụ Đại Lợi là  một trong mấy vai mang tính “hài kịch” sắc nét hơn cả. Những đoạn cụ Đại Lợi đứng sừng sững trên sập, kéo co giằng cái khung ảnh với ông Dại Cát, đoạn cụ Đại Lợi hí hởn, mừng rỡ chạy vòng quanh cỗ hậu sự của chính mình... là những đoạn diễn rất được khán giả thích...

Khi trò chuyện với tôi, cũng như khi nhắc đến đời diễn viên của tôi, nhiều anh chị em thường nhắc đến vai Cụ Đại Lợi. Tuy nhiên, tự xét khả năng và tâm tư của mình, tôi vẫn thấy mình không phải là diễn viên của hài kịch. Những vai “phản diện” kiểu vai cụ Đại Lợi, thật ra, tôi không thích bằng một loại nhân vật “chính diện” mà tôi thấy gần gũi và tạo được thành công nhiều hơn cả: đó là vai những bà mẹ, những bà mẹ Việt Nam.