Sưu tầm: NSUT Trịnh Xuân Hà

ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ TỪ MỘT NHÀ HÁT THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA

NSƯT. Nguyễn Đăng Tiến

 

Nhà hát Múa rối Thăng Long là một Nhà hát chuyên biểu diễn loại hình nghệ thuật truyền thống múa rối nước. Từ một đơn vị thuộc diện đàn em của văn hóa Hà Nội đến nay đã phát triển trưởng thành với hàng nghìn buổi diễn, doanh thu hàng chục tỷ đồng, phục vụ nửa triệu khán giả hàng năm với nhiều chương trình nghệ thuật đạt các Huy chương Vàng, Huy chương Bạc trong các kỳ Liên hoan Múa rối quốc tế, trong nước. Tuy nhiên trong thời kỳ bao cấp, Nhà hát đã gặp vô vàn khó khăn có lúc tưởng chừng phải giải thể vì không có vở diễn, không có khán giả. Đời sống cán bộ, nghệ sỹ, diễn viên chật vật, vất vả. Họ phải bươn chải đủ nghề để mưu sinh, kiếm sống qua ngày và còn gắn bó được với Nhà hát bằng lòng yêu nghề mà thôi. Nhưng từ năm 1987 dưới sự chỉ đạo của Thành phố, Sở Văn hóa Thể thao Hà Nội đã sáng suốt định hướng để Nhà hát xây dựng bộ môn rối nước trên cơ sở kế thừa và phát triển nghệ thuật rối nước cổ truyền của dân tộc, nên Nhà hát đã dần lấy lại được lòng tin của khán giả và khẳng định thương hiệu Múa rối Thăng Long của mình. Đặc biệt từ năm 2000 Nhà hát rất tự hào là đơn vị đầu tiên, duy nhất của Hà Nội thực hiện chủ trương xã hội hóa của Đảng và Nhà nước. Việc đó đã tạo động lực cho đơn vị phát triển mọi mặt cả về tổ chức và chất lượng nghệ thuật.

Nhìn lại quãng đường 15 năm thực hiện mô hình xã hội hóa nhà hát rút ra được những bài học kinh nghiệm sau:

I. Thuận lợi và khó khăn

1. Về thuận lợi:

- Nhà hát nằm ở vị trí đắc địa giữa trung tâm phố cổ với nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh như: Hồ Gươm, Đền Ngọc Sơn, Quảng trường Lý Thái Tổ, Nhà hát Lớn, phố ẩm thực Tạ Hiện, khu vực chợ đêm, phố đi bộ Hàng Đào – chợ Đồng Xuân ..., lượng người qua lại đông đúc tấp nập, thuận tiện cho các công ty du lịch quảng bá giới thiệu.

- Nhà hát có một tập thể đoàn kết thống nhất, một ban lãnh đạo năng động sáng tạo, biết khơi gợi động viên mọi sức lực, trí tuệ của từng thành viên, từ người nghệ sỹ đến người bảo vệ, lao công để họ gắn bó, tận tâm hết lòng vì công việc.

- Đất nước hội nhập mở cửa, khách quốc tế đến Việt Nam thăm quan du lịch ngày càng đông, nhu cầu tìm hiểu, khám phá lịch sử, văn hóa nghệ thuật dân tộc Việt Nam luôn hướng cho họ tìm đến các loại hình nghệ thuật truyền thống trong đó múa rối nước có sức hấp dẫn kỳ lạ bởi sự độc đáo, sự thuần khiết mộc mạc mang đậm bản sắc văn hóa Việt.

2. Về khó khăn:

- Là một Nhà hát đầu tiên thực hiện xã hội hóa, sự lúng túng bỡ ngỡ chuyển đổi từ mô hình bao cấp XIN – CHO sang phương thức mới tự chủ thu chi luôn gặp phải sức ỳ trong tâm lý hành động. Cái tư duy cũ được chăng hay chớ, thụ động ỉ lại trông chờ vào kinh phí cấp trên, có thì làm, chẳng có thì thôi ăn sâu trong tiềm thức của mọi người mấy chục năm rồi không dễ gì xóa bỏ một sớm một chiều.

- Việc không nhận một đồng nào từ nguồn kinh phí hàng năm của Nhà nước như một cú phanh gấp không khỏi làm một số người băn khoăn lo lắng. Sự lo âu này là có cơ sở bởi lẽ tất cả mọi khoản chi tiêu trong cơ quan từ cái bé nhất là bình nước, bánh xà phòng đến dựng vở, sửa chữa nâng cấp rạp diễn, mua sắm trang thiết bị mới... đều trông chờ vào từ nguồn thu bán vé, vậy nhỡ khách vắng thì sao ? Trên thực tế mấy đợt dịch H5N1, động đất, sóng thần, khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã là những bài học xương máu động chạm ngay đến nồi cơm của mọi người.

- Các quy định của nhà nước đã thông thoáng, cởi trói, Nhà hát được thực hiện theo Nghị định 47 được tự chủ thu chi nhưng một số các yếu tố đặc thù cho ngành nghệ thuật vẫn cần được chỉnh sửa cho phù hợp với tình hình thay đổi hiện nay.

II. Các bước thực hiện và kết quả của chủ trương xã hội hóa

Việc thực hiện xã hội hóa tạo ra cho Nhà hát cả niềm vui và nỗi lo. Vui vì được cởi trói – được tự chủ, nhưng lo cũng rất nhiều. Chập chững, mò mẫm vừa đi vừa tìm đường, đúng thì được lời khen ngợi của trên, nhưng chẳng may mà sai mà lạc lối nhất là đụng chạm đến tiền nong, kinh phí thì “ quả báo nhãn tiền “ ngay. Cũng may có sự chỉ đạo của Sở, sự hỗ trợ của các phòng ban chức năng chuyên môn nên mọi việc cũng dần đi đúng quỹ đạo. Nhà hát đã thực hiện các bước đi như sau:

1. Tạo sự đồng thuận cao trong đơn vị.

Chính quyền đã kết hợp với công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, dưới sự chỉ đạo của chi bộ tổ chức các cuộc họp phổ biến, chủ trương đường lối của công tác xã hội hóa để mọi thành viên nắm vững và hiểu các ưu điểm thuận lợi cho kế hoạch phát triển lâu dài của đơn vị.

2. Xây dựng bản quy chế chi tiêu nội bộ     

Đây là một công việc hết sức quan trọng và cấp thiết tạo cơ sở pháp lý điều hành , quản lý mọi hoạt động của Nhà hát. Các bộ phận trong đơn vị rà soát, kiểm tra, đối chiếu mọi việc nhỏ nhất của từng cá nhân, để xây dựng kế hoạch hoạt động, kế hoạch sử dụng trang thiết bị vật tư, phân bổ định mức kinh phí cho từng hạng mục công việc trên cơ sở tiết kiệm, hiệu quả. Sau đó bản quy chế được toàn thể cơ quan nhất trí biểu quyết thông qua, hàng năm có bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế.

3. Kiện toàn bộ máy hoạt động

Với phương châm sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực sẵn có, Nhà hát đã tiến hành tổ chức và sắp xếp lại các phòng ban, bộ phận một cách hợp lý. Từng vị trí việc làm đều có quy định chặt chẽ về trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện. Mỗi người đều kiêm nhiệm nhiều việc và thường xuyên kiểm tra lẫn nhau, từ đó tạo cho các thành viên có ý thức cao, năng động và sáng tạo hơn.

Các nhược điểm cố hữu về maketing, đối ngoại, tổ chức biểu diễn được phân tích căn kẽ, nhanh chóng khắc phục bằng cách thay đổi nhân sự lãnh đạo, định hướng mục tiêu hoạt động. Tất cả các việc đó đã làm cho bộ máy làm việc đồng bộ, trơn tru đạt hiệu quả rõ rệt. Điều đáng mừng là từ năm 2000 đến nay, doanh thu của Nhà hát năm sau luôn cao hơn năm trước, cơ sở vật chất ngày càng khang trang, đời sống cán bộ, nghệ sỹ, diễn viên ngày càng được cải thiện.

III. Một số kiến nghị

Chúng ta đều biết chủ trương xã hội hóa các đoàn nghệ thuật của Đảng, Nhà nước là đúng đắn, là còn đường tất yếu phải thực hiện để thay da đổi thịt diện mạo nền nghệ thuật Việt Nam. Tuy nhiên trong quá trình 15 năm thực tiễn triển khai của Nhà hát Múa rối Thăng Long chúng tôi mạnh dạn xin phép được nêu lên vài điều kiến nghị, băn khoăn. Đó là:

1. Từ ngày đất nước hội nhập quốc tế, các trào lưu nghệ thuật thế giới du nhập vào Việt Nam ngày càng sâu rộng, nền nghệ thuật truyền thống nước nhà vốn kén khách đã ít người xem lại càng hắt hiu. Múa rối Thăng Long cũng không ngoại lệ, dù được tổ nghề ưu ái, ấy vậy mà đến 98% khán giả là người nước ngoài. Mặc dù Nhà hát đã cố gắng nỗ lực tổ chức các buổi diễn sáng chủ nhật, giảm giá vé, bù lỗ cũng diễn để mong các bậc cha mẹ ngày nghỉ cho con cái đi xem mà rối đến nay cũng phải lúc bỏ buổi diễn. Còn rối cạn bù lỗ 100%, chất lượng các vở diễn tiến bộ vượt bậc, chiêu trò, mảng miếng đầy ắp, hấp dẫn ấy mà khán giả cũng chẳng mấy mặn mà. Từ đó, nhìn sang các loại hình cải lương, chèo, xiếc càng thấy băn khoăn hơn.

2. Nút thắt lớn hiện nay của xã hội hóa là phải sắp xếp tinh giảm bộ máy... Rối Thăng Long có cái may là các nghệ sỹ được hoạt động biểu diễn đến lúc cầm sổ hưu, nhưng các nhà hát khác bao nhiêu nghệ sỹ tài danh vang bóng một thời chỉ vì “ cái tuổi nó đuổi cái xuân đi “ không còn cống hiến cho sự nghiệp nghệ thuật được nữa, ngồi đấy lĩnh lương đợi ngày đủ tuổi, đủ năm nghỉ chế độ, cũng không khỏi chạnh lòng vì mình mà không còn suất biên chế cho các em, các cháu thế hệ trẻ đang tài năng sáng tạo. Và ngày tháng trôi qua, các lớp con cháu có còn đủ nghị lực, nhiệt huyết chờ đợi để trở hành người nhà nước nữa không. Xin cấp trên hãy có cơ chế, giải pháp thỏa đáng giải quyết chuyện này.

3. Cũng như trong một gia đình, khi cha mẹ cho con gái đi lấy chồng, ai cũng phải lo cho con một món hồi môn kha khá vừa để hãnh diện với nhà trai, vừa để con mình có chút dắt lưng mai sau đỡ khổ. Hồi môn với các nhà hát Hà Nội chính là cơ sở vật chất, trang thiết bị, mặc dù thời gian qua đã được quan tâm nâng cấp nhưng vẫn còn thiếu thốn, chắp vá và lạc hậu.

4. Khi đã thực hiện xã hội hóa, các Nhà hát nơi sản sinh ra những tác phẩm nghệ thuật mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, góp phần quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng, nhận thức, nhân cách, lối sống con người sẽ trở thành các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vật chất đơn thuần, sẽ phải đóng thuế doanh nghiệp hàng năm cho các hoạt động sáng tạo của mình.Vẫn biết rằng, đóng thuế là nghĩa vụ của tất cả các công dân, nhưng giá như có một cơ chế đặc thù nào đó, bớt đi 50% hay 25% thôi cho các nhà hát có thêm chút kinh phí vốn đã eo hẹp lắm rồi để tái đầu tư, để cải thiện thêm đời sống các nghệ sỹ.

5. Lương hàng tháng là một khoản thu nhập cần thiết bắt buộc phải có của các nghệ sỹ, trước kia các nhà hát chẳng phải lo lắng gì cứ định kỳ xuân, hạ , thu đông đến lại lĩnh. Trong tổng thu chi, lương chiếm một tỷ lệ phần trăm không nhỏ, nếu một ngày đẹp trời nào đó, nhà nước cắt bỏ nguồn sữa này liệu các nhà quản lý đơn vị có ứng biến xử lý ngay được không ? cái viễn cảnh thời bao cấp “ chân ngoài dài hơn chân trong “ có lại tái diễn không ? vì “ cơm áo không đùa với khách thơ “ mà.

Xin nhà nước có một lộ trình, 3 năm đến 5 năm duy trì, cắt giảm dần dần khoản kinh phí “ lương “ này để các nghệ sỹ có động lực, có calo tư duy sáng tạo nghệ thuật.

Tất cả những ý kiến nêu trên chỉ là những bài học nhỏ rút ra được từ thực tế 15 năm xã hội hóa, có thể nó đúng ở thời điểm đó nhưng không đúng ở thời điểm này, có thể nó hay ở đơn vị này nhưng lại chưa chuẩn mực ở đơn vị khác. Tuy nhiên cũng xin mạnh dạn nêu ra để chúng ta cùng suy ngẫm.