Sưu tầm:NSND Phạm Thị Thanh Hương
Góp phần quy hoạch phát triển và định hướng
hoạt động nghệ thuật
Thanh Phúc
Nhằm góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo Nghị quyết Hội nghị lần 5 khóa VIII của BCH TW Đảng và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020”; đặc biệt là tạo cơ sở đánh giá các phương pháp sáng tạo, khuynh hướng nghệ thuật, chất lượng tác phẩm các loại hình văn hóa nghệ thuật ở tầm vĩ mô, từ đó định hướng hoạt động cho từng giai đoạn từ 2013 đến 2020; Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL Hoàng Tuấn Anh vừa ký quyết định phê duyệt Đề án tổ chức các cuộc thi, hội diễn, liên hoan nghệ thuật chuyên nghiệp từ năm 2013 đến năm 2020. Trong đó, Bộ VH-TT&DL giao cho Cục NTBD chủ trì, phối hợp với các Hội VHNT chuyên ngành, các cơ quan liên quan trực tiếp thực hiện.
Bên cạnh những ưu điểm nổi bật là đã góp phần đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của công chúng trong thời kỳ mới, góp phần tôn vinh những tập thể, cá nhân có đóng góp trong lao động sáng tạo nghệ thuật, thúc đẩy công tác quảng bá văn hóa Việt Nam với du khách quốc tế… thì việc tổ chức cuộc thi, hội diễn, liên hoan nhiều năm qua đã thể hiện những mặt hạn chế. Nổi bật nhất là đều dựa vào nguồn chi ngân sách của Nhà nước, chưa huy động được các nguồn lực xã hội; nhiều vở đoạt giải có sự đầu tư dàn dựng công phu nhưng không quảng bá, phục vụ rộng rãi công chúng, gây lãng phí nguồn ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, việc xây dựng quy chế tổ chức, quy chế chấm thi còn chung chung, nhiều bất cập, không sát thực tế đời sống nghệ thuật vùng miền nên từng gây tranh cãi trong Hội đồng giám khảo, BTC và các đơn vị nghệ thuật…
“Đề án tổ chức các cuộc thi, liên hoan nghệ thuật chuyên nghiệp từ năm 2013 đến năm 2020” khi được triển khai sẽ dần dần tạo sự ổn định và phát triển bền vững trong quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật từ nay đến năm 2020 đối với các đơn vị nghệ thuật trong và ngoài công lập.
Theo đó, sẽ có 2 thể loại:
1. Cuộc thi: có hai hình thức:
a) Cuộc thi dành cho các đơn vị nghệ thuật: Thời gian tổ chức là 3 năm/lần với quy mô toàn quốc, dành cho các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp trong và ngoài công lập ở các lĩnh vực: Tuồng, Chèo, Cải lương, Kịch nói, Dân ca kịch và nghệ thuật Ca, Múa, Nhạc. Đây là hoạt động mang tính thi đua, với mục đích đánh giá, tổng kết toàn diện khuynh hướng nghệ thuật, phương pháp sáng tạo, phương thức hoạt động, chất lượng tác phẩm, nhằm tôn vinh tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong lao động sáng tạo nghệ thuật và khuyến khích nâng cao chất lượng tác phẩm phục vụ cho công chúng.
b) Cuộc thi dành cho nhóm nghệ sĩ, cá nhân nghệ sĩ: Thời gian tổ chức là 3 năm/lần với quy mô toàn quốc, nhằm khẳng định đẳng cấp, ghi nhận công sức tìm tòi, sáng tạo của các nhóm nghệ sĩ, cá nhân nghệ sĩ. Cuộc thi được tổ chức theo chuyên ngành ở các lĩnh vực nghệ thuật sân khấu, ca, múa, nhạc để phát hiện, khuyến khích, bồi dưỡng tài năng. Riêng loại hình Múa và Âm nhạc, tiêu chí cuộc thi phải tiếp cận quy chuẩn quốc tế và khu vực để tạo điều kiện cho nghệ sĩ Việt Nam tham gia các cuộc thi quốc tế tổ chức ở nước ngoài.
2. Liên hoan: có 2 hình thức
a)Liên hoan trong nước: Tổ chức theo từng chuyên ngành nghệ thuật, quy mô toàn quốc. Chỉ tổ chức cho các loại hình nghệ thuật không tham gia các cuộc thi dành cho các đơn vị nghệ thuật. Mục đích tạo điều kiện cho các đơn vị nghệ thuật, nghệ sĩ trao đổi, giao lưu, học tập kinh nghiệm; tôn vinh tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong lao động sáng tạo nghệ thuật. Đơn vị tổ chức liên hoan cần xây dựng chủ đề gắn với các ngày lễ trọng đại của dân tộc, các sự kiện chính trị diễn ra hàng năm.
Liên hoan được tổ chức xen kẽ giữa hai kỳ tổ chức cuộc thi. Thời gian tổ chức liên hoan đối với từng loại hình nghệ thuật là 3 năm/lần.
b) Liên hoan quốc tế: dành cho một số loại hình nghệ thuật có tính phổ cập chung trên thế giới, như: Âm nhạc, Múa, Múa rối, Xiếc, Hợp xướng, Vũ kịch hoặc liên hoan nghệ thuật mang tính thể nghiệm. Liên hoan này không nhất thiết phải tổ chức 3 năm/lần.
Ngoài ra, các đơn vị nghệ thuật trực thuộc Bộ VH-TT&DL tham dự liên hoan hoặc cử nghệ sĩ tham dự các cuộc thi nghệ thuật tổ chức ở nước ngoài phải xin phép và được sự đồng ý của Bộ VH-TT&DL. Các đơn vị nghệ thuật và nghệ sĩ tại địa phương tham dự liên hoan, cuộc thi tổ chức ở nước ngoài phải xin phép và được sự đồng ý của UBND các tỉnh, TP.
Đề án cũng đề cập khá chi tiết về các quy định đơn vị tổ chức, quy chế tổ chức, chấm giải, cơ cấu giải thưởng, tên gọi các cuộc thi, liên hoan, tên gọi thành phần xét giải và kinh phí tổ chức thực hiện. Theo đó, Cục NTBD chịu trách nhiệm xây dựng khung các quy chế tổ chức, quy chế chấm giải, quy chế hoạt động của ban chỉ đạo, ban tổ chức các cuộc thi, liên hoan nghệ thuật làm cơ sở để các đơn vị soạn thảo chi tiết cho mỗi lần tổ chức.
Một nét mới trong đề án chính là sau mỗi cuộc thi, liên hoan, Bộ VH-TT&DL sẽ chỉ định các đơn vị nghệ thuật có chương trình, vở diễn đoạt giải cao đi biểu diễn phục vụ nhân dân các vùng nông thôn, miền núi, hải đảo… để quảng bá tác phẩm với công chúng, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người dân. Ngoài ra, các đơn vị tham dự liên hoan phải tổ chức biểu diễn ít nhất 10 buổi để giới thiệu tác phẩm đến công chúng tại địa phương.
Từ nay đến năm 2020, Bộ chỉ đạo sẽ dần chuyển giao cho các hội chuyên ngành thực hiện việc tổ chức các cuộc thi, liên hoan, theo lộ trình như sau:
- Từ 2013, 2014, số lượng các cuộc thi, liên hoan nghệ thuật do Cục NTBD phụ trách tổ chức là 80%; Các hội VHNT chuyên ngành ở trung ương: 20%
- Năm 2015, số lượng các cuộc thi, liên hoan nghệ thuật do Cục NTBD tổ chức: 70%, các hội tổ chức: 30%
- Năm 2016, số lượng các cuộc thi, liên hoan nghệ thuật do Cục NTBD tổ chức 60%, các hội tổ chức 40%
- Từ năm 2017, số lượng các cuộc thi, liên hoan nghệ thuật do Cục NTBD tổ chức 50%, các hội tổ chức 50%.
Về kinh phí, ngoài nguồn kinh phí sự nghiệp nhà nước cấp hàng năm cho Cục NTBD, các hội VHNT; Bộ VH-TT&DL sẽ cấp kinh phí tổ chức các cuộc thi, liên hoan nghệ thuật do Bộ đặt hàng, ký hợp đồng thuê khoán các hội tổ chức. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh huy động các nguồn lực xã hội theo lộ trình tăng dần hàng năm, cụ thể: Năm 2013 huy động kinh phí xã hội hóa tối thiểu là 10% trở lên; Năm 2014: từ 20% trở lên;… cho tới năm 2017, việc huy động kinh phí xã hội hóa tối thiểu là 50% trở lên.
