Sưu tầm: Nguyễn Thanh Vân
HAI KỶ NIỆM BẠC TÓC
CHU LAI
Ở đời có những kỷ niệm ngọt ngào, có những kỷ niệm cay đắng, có những kỷ niệm vừa ngọt vừa đắng và có cả những kỷ niệm bão tố, bạc tóc bạc đầu.
Những năm đầu thập kỷ sáu mươi của thiên niên kỷ trước, chả hiểu ma xui quỷ khiến thế nào mà đang sắp thi vào đại học tôi lại giở chứng đi thi vào văn công. Sáu ngàn đậu có mười một, nghĩ cũng oách. Sau hai năm dùi mài ngón nghề, miếng mẹo tại trường trung cấp nghệ thuật Quân đội, thế thôi, trung cấp hồi đó là to lắm rồi, cái thằng tôi được điều chuyển về Đoàn kịch Tổng cục chính trị của ông Đào Hồng Cẩm ở chung với anh Phạm Ngọc Cảnh, Tạ Xuyên, Đức Trung, Đoàn Ngọc.. coi như cùng lứa. Nhưng khốn khổ, mặt mũi cha mẹ đẻ ra chả mấy bình thường nên suốt ba năm chỉ được đạo diễn phân đóng những vai ghồ ghề kiểu tướng cướp, toán trưởng biệt kích, lính Ngụy, đao phủ…mà chả được nhận một cái vai bộ đội tử tế nào. Lại còn cái tật hay nghĩ ngợi này nọ, hay phát ngôn nghịch nhĩ nọ kia nên có đận bị mấy cụ đi trước thì thầm khoác cho cái mác “Nhân Văn” khá rắc rối.
Và đời tôi sẽ cứ hứng chịu những cái rắc rối đó nêu lúc đó Mỹ không đem bom ra oanh kích miền Bắc. Thời cơ thoát hiểm đây rồi. Son phấn thế đủ rồi. Làm thằng lính phải là thằng lính thực sự xông pha ngoài sa trường chứ ai đời sức vóc như Tac-zang, các cô bạn diễn thường gọi vậy, lại chỉ có mỗi việc đóng kịch cho các đoàn quân sắp hành quân đi xa đến xem rồi về, còn mình thì lại ngẩn ngơ với cả một vùng mồ hôi chinh chiến họ để lại, vô lý! Nhưng ông bố lại cản ngăn. Nhà có mấy liệt sĩ rồi, chả có ông cha bà mẹ nào muốn gia đình có thêm liệt sĩ nữa. Thế là lừa lúc ông cụ đội bom vào công tác tại mặt trận Trị Thiên Huế, bèn giả chữ ký của bố viết đơn nồng nhiệt xin đi. Ông Cẩm bảo, cháu nên ở lại, nếu không thích diễn thì sẽ tạo cơ hội đi học đạo diễn ở Liên Xô. Lắc đầu hết. Người tình đẹp thế mà còn bỏ đi được thì đạo diễn đã là cái gì. Thế là đi. Tạm biệt các cô bạn diễn thân yêu mà nhớ mãi cái đêm xe bị patine trên đỉnh đèo Clavo lạnh dưới 5 độ ấy, khi nhảy xuống dùng đôi vai tuổi mười bảy kích được chiếc lốp ra khỏi vũng lầy, lên xe được một bàn tay ấm mềm nắm chặt, được một nhúm lạc rang nóng hổi từ phía sau dúi lên; tạm biệt cái thế giới toàn âm thanh và mỹ nữ, tạm biệt những chuyến đi xa bồi hồi và lãng mạn, tạm biệt nghệ thuật, tạm biệt những hạt lạc rang ấm nồng trên đỉnh đèo giá buốt, tạm biệt những bàn tay ấm mềm, tạm biệt thi ca tớ lên đường làm thằng lính trận cái đã, mọi chuyện tính sau.
Nhưng sự đời lại không hoàn toàn đơn giản như vậy. Đang “Lên xe xuống ngựa”, đang được nâng niu chiều chuộng mọi chốn mọi nơi, đang ăn no mặc đủ, đang gần nhà người yêu bỗng chốc khổ như thằng bị đi đày. Đói triền miên, đói đến nỗi có đêm một mình vào bản mua cả 15 quả trứng vịt về luộc ăn hết veo. Nhưng kinh nhất là cái vụ mang nặng hành quân diễn tập. Mùa đông còn đỡ, mùa hè cả đại đội vừa đi vừa gãi ghẻ, gãi hắc lào soàn soạt, gãi đến tướp máu. Rồi hai gan bàn chân, cứ đi được một buổi là da dẻ lại nứt toác, đêm về phải lấy chỉ dù khâu lại. Cả một trời u ám đổ xuống cái vùng lãng mạn háo hức làm chiến binh kiêu hãnh.
Đúng lúc đó thì Đoàn kịch nhà đến biểu diễn. Và cái kỷ niệm bạc đầu lần thứ nhất xảy ra. Nhìn thấy tôi, cả đám bạn bè nghệ sĩ trợn mắt không còn nhận ra cái thằng diễn viên trắng trẻo khá đào hoa nữa. Nhất là con mắt mấy cô gái, cứ nhìn tôi như nhìn một gã tử tù sắp lên đoạn đầu đài. Rồi cụ Cẩm đi đến, gọi tôi lên chỉ huy sở Trung đoàn, hỏi luôn: “Sao, rèn luyện thế đủ chưa? Đủ rồi thì ngay sáng mai sẽ theo Đoàn về Hà Nội, mình đã trao đổi với quân lực sư đoàn rồi.” Nghe mà nóng bừng cả người, cứ như thể sắp sa xuống vực lại được vớt lên nhưng vẫn nói cứng: “Chú để cháu suy nghĩ cái đã”.
Suy nghĩ. Có lẽ đêm đó là cái đêm dài nhất của tôi. Một đêm không ngủ, một đêm giằng xé ngổn ngang biết bao điều. Nếu về, tôi lại có tất cả, sẽ vĩnh viên thoát khỏi cái cảnh tập làm làm lính chiến chắc là không kham nổi này. Nếu ở lại, ngày mai lại tiếp tục cuộc diễn tập hành quân, lại gãi lại rách, lại những đêm nằm úp thìa ôm nhau nhớ nhà nhớ Hà Nội đến quay quắt và sau đó là cuộc hành quân vượt Trường Sơn vào trận dặc dài tới sáu tháng. Nhưng lại không thể về, đã giả chữ ký, đã gần như chích máu viết tâm thư, đã kiêu hãnh ngẩng cao đầu chia tay bạn bè, các cô gái, ra đi như một hiệp sĩ thánh chiến chả lẽ vị hiệp sĩ đó mới gãi có ít cái, rác có đôi đường mà đành cúi đầu làm nước mã hồi ư? Không, hèn lắm, tủi lắm, người ta có còn coi mình ra cái giống gì, nhất là cái cô xinh đẹp nhất đoàn ấy, lúc mình ra đi nàng đã tiễn mình bằng cái nhìn ngưỡng mộ chia xa, giờ quay đầu lại có khi ánh mắt kia sẽ tối sầm thất vọng.
Chính đôi mắt mang biểu tượng của danh dự, của sự tự trọng nam nhi đó đã giúp tôi, sau một đêm nghĩ ngợi đến muốn bạc tóc, mặt mũi hom hem hẳn đi, sáng hôm sau có một câu trả lời : “Không!”
Tiếng “không” ai oán, nghẹn ngào đó đã đẩy tôi vào chiến trường làm thằng lính đặc công suốt mười năm trời để cho đến năm 1973 khi cái Hiệp định ngừng bắn Pari được ký kết, cú bạc đầu thứ hai của tôi lại xuất hiện.
Đó là những khoảnh khắc mong manh giữa cái sống và cái chết khi đối phương cố tình vi phạm hiệp định xua quân đi lấn chiếm những vùng đất thuộc bên phía giải phóng. Đang từ trong tâm trạng phơi phới nghĩ rằng sắp hòa bình rồi, sắp được về với Hà Nội rồi lại tiếp tục chuyển sang những trận đánh khốc liệt, dai dẳng, hy sinh nhiều hơn, rỗng roãng hết cả đầu óc. Trời ạ, chờ đợi mãi mới có cái hiệp định hòa bình này, giờ lại nện nhau chí tử nữa thì bao giờ mới kết thúc đây? Địa bàn da beo ác liệt, người ngã xuống nhiều hơn người bổ sung, cứ vài tháng, nửa năm lại cháy phiên hiệu một lần, tình hình này không kết thúc nhanh thì lấy người đâu ra mà cầm súng.
Đang như thế thì Phân khu có lệnh gọi tôi lên. Cười nhạt: Chắc là lại một mệnh lệnh đánh đồn hay cứ điểm gì đó để trả đũa giao cho đại đội đặc công của tôi, đại đội đặc công duy nhất trên toàn địa bàn là cùng chứ gì, chán thật! Nhưng không, đến nơi, trong một mái lá Trung quân đỏ như màu ngói mới, một vị cán bộ trung tuổi bắt tay, cười, tự giới thiệu: “Mình ở Ban tuyên huấn Miền, nghe nói đồng chí vốn trước đây là diễn viên kịch được đào tạo chuyên nghiệp, lại có viết lách nữa nên đồng chí trưởng ban cử tôi xuống đây hỏi xem đồng chí có nguyện vọng lên trên đó công tác, nhân thể tham gia, góp sức vào đội kịch của Miền không?”
Một tia sáng vụt trong đầu. Lên Ban tức là lên Rờ, một cụm từ kêu vang giữa rừng thầm bảo cho tôi biết rằng lên đó chắc chắn là sống sót, sẽ không còn cái cảnh : “Ngày nào cũng chôn nhau nhưng chưa đến lượt chôn mình” theo lối nói ngang tàng của cánh lính trận nữa. Thế là lại một đêm mất ngủ ngồi thù lù ngoài cửa rừng hút thuốc vặt. Lại giao tranh, lại giằng xé. Nếu lần trước giằng xé giữa cái sướng và cái khổ thì lần này là giữa cái sống và cái chết, đương nhiên sẽ quyết liệt hơn. Chỉ khác lần trước ánh mắt cô bạn diễn khiến tôi ở lại thì lần này những nấm mồ và ánh mắt đồng đội đã gắn bó sinh tử cùng nhau không cho phép tôi rời đi. Lại còn tình cảm sâu nặng với bà con trong ấp chiến lược nữa. Tình thế ngàn cân treo sợi tóc, ai cũng bỏ đi thì mảnh đất thân yêu đẫm máu này sẽ ra sao? Câu chuyện không còn là vấn đề danh dự, là lòng tự trọng nam nhi như lần đầu nữa nữa mà sâu hơn, nó đã chuyển vào cái sự nặng tình nặng nghĩa mất rồi. Thôi thì đã dấn thân vào tận đây thì dấn cho trót, kể cả đổi bằng tính mạng.
Và chính cái tình trận mạc thiêng liêng đó đã giúp tôi sáng hôm sau có câu trả lời khá thanh thản : “Không!”
Chỉ có điều trưa hôm đó trở về lán, soi mình xuống dòng suối trong vắt, tôi bỗng thấy mình đã có lam nham mấy nhúm tóc bạc, lần này thì bạc thật chứ không phải là “như” nữa. Thế mới biết, cuộc chiến đấu vượt qua chính cái bản thể phức tạp của mình bao giờ cũng là cuộc chiến đấu bạc tóc nhất.
