Sưu tầm: Nguyễn Thị Lệ Chi

KHÁN GIẢ LÀ MỘT PHẦN CỦA SÂN KHẤU

                                                                                                                                       Đặng Hiển

Hơn nghệ thuật nào hết, sân khấu là hình thức nghệ thuật cần khán giả. Nhà thơ có tể tự sướng bằng cách đọc thơ mình, họa sĩ có thể ngắm không biết chán bức tranh mình vẽ, nhạc sĩ có thể tự hát ca khúc hay tự gẩy bản đàn mình sáng tác nhưng nhà viết kịch thì không thể một lúc sắm vai mấy nhân vật của mình, rồi lại tự mình thưởng thức những vai ấy. Thời cổ đại, thuở mới ra đời nghệ thuật sân khấu, diễn viên bao gồm cả khán giả và dấu vết của nó là những dàn đồng ca trong kịch cổ đại.

Ở ta, dấu tích ấy là tiếng đế (tiếng đế: “Thị Màu ơi, nhà mày có mấy chị em, có ai như mày không?” Thị Màu: “Có tao là chính chuyên nhất đấy!”.

Nhân dân ta rất yêu thích sân khấu. Chiếu chèo bao giờ cũng đông, khán giả chật ních sân đình. Tuồng pho khó thế mà cũng có khán giả, không phải chỉ khán giả cung đình. Ngoài ra còn có tuồng đồ dành cho khán giả bình dân.

Kịch nói sau CMT8 đã đi từ các nhà hát vào công chúng ở thôn cùng xóm vắng. Làng tôi hồi đầu kháng chiến, có các tiết mục tự biên tự diễn, có đêm diễn ở ngay sân nhà bà tôi, tác giả kịch bản là anh con bác ruột tôi, diễn viên là hai em con cô ruột tôi…

Hồi trước và sau 1975, kịch của Học Phi, Đào Hồng Cẩm, của Tất Đạt, Đặng Thanh Hương, Vũ Dũng Minh và nhất là Lưu Quang Vũ cuốn hút người xem. Trong kháng chiến chống Pháp, ở Liên khu 5, vở tuồng Chị Ngộ được nhân dân tán thưởng, sau buổi diễn, khán giả lên gặp diễn viên. Vở Chị Hòa của Học PHi diễn ở nông thôn, đồng bào đi xem rất đông, khi màn hạ, còn lên sân khấu thăm hỏi diễn viên sắm vai chị Hòa. Nổi gió của Đào Hồng Cẩm trở thành tiết mục sân khấu trích đoạn ở các trường học (một hình thức ngoại khóa phụ trợ cho chính khóa), trường cấp 2 của vợ tôi diễn trích đoạn Nổi gió, vợ tôi (lúc này đang có mang 3 tháng) sắm vai Vân. Vở Đôi mắt của Vũ Dũng Minh diễn đi diễn lại không hết người xem. Kịch của Lưu Quang Vũ cũng vậy. Các đoàn kịch các tỉnh đi lưu diễn các huyện, ở đâu cũng có khán giả (có bán vé cẩn thận). Đoàn kịch Hà Sơn Bình diễn vở Hoa hậu xứ Mường (chuyển thể từ tiểu thuyết Phượng vũ), diễn cả tháng không hết người xem. Đoàn kịch Hà Tây có lần lưu diễn vở kịch của Đặng Trung và tôi. Các nhà văn hóa trung tâm thỉnh thoảng cũng có tiết mục sân khấu (giấy mời miễn phí). Vở Vinh quang chạy trốn của tôi dược 2 nhà văn hóa Nam Định và Thanh Hóa biểu diễn. Có hội diễn không chuyên khu vực. Tôi nhớ đội kịch nhà máy đường Lam Sơn diễn vở Đứa con thứ 3 của tôi ở nhà văn hóa Hà Tây được Huy chương vàng, tác giả được nhuận bút 400.000đ thời đó. Tóm lại sân khấu ngày trước được coi là món ăn tinh thần thịnh soạn của nhân dân. Nhân dân là khán giả tự nguyện của sân khấu, niềm mơ ước của kịch tác gia chúng ta ngày nay.

Ngày nay, nhất là thời kỳ sau Lưu Quang Vũ, khán giả đến với sân khấu ít hẳn đi, người ta đã phải tìm hiểu khán giả bằng nhiều hình thức tiếp thị như đến hợp đồng với cơ quan, chia lẻ ra để diễn ở các nơi… vì nhiều lí do:

1. Cuộc sống bộn bề, việc mưu sinh chiếm gần hết thời gian và tâm trí.

2. Có quá nhiều hình thức giải trí, nhất là giải trí tại nhà, vừa hấp dẫn vừa không mất kinh phí và không mất việc.

3. Nhưng lý do quan trọng nhất là vì sân khấu cuộc đời dữ dội hơn sân khấu nhỏ của chúng ta nhiều quá, mà khán giả lại chính là diễn viên của sân khấu lớn đó.

Nhưng tại sao sân khấu nhỏ của chúng ta lại không diễn những kịch bản lớn của Đời? Có nhiều lí do khách quan, chủ quan: Về khách quan: những người duyệt vở trong đó có chính nghệ sĩ chúng ta, đã né tránh những vấn đề gai góc, sự động chạm, phạm húy. Về chủ quan: Những người viết kịch chúng ta không đủ dũng cảm hoặc không đủ khéo léo để chuyển tải được những điều cần nói. Khán giả xa lánh chúng ta vì ta không nói lên được những điều họ nghĩ.

Sân khấu của ta hiện nay thường nói những điều đã nói rồi, đã biết rồi. Thực ra, không phải cái gì nghệ thuật nói đều mới cả, nhưng những điều chúng ta nói cũng phải có cái mới: cái nhìn mới, cách giải quyết mới, chiều sâu mới của tư tưởng, cảm xúc, tạo nên những liên tưởng mới, nghĩa là phải có phần gắn với thời đại mới, mang hơi thở mới của thời hiện đại (đương nhiên không phải là hiện tại hóa quá khứ một cách lộ liễu, mà là đem ánh sáng của thời hiện đại soi chiếu vào quá khứ) và nói chung, những vở kịch lớn thường có cái nhìn trước thời đại hoặc cái nhìn muôn thuở (như Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng đặt vấn đề mâu thuẫn giữa khát vọng nghệ thuật cao với thực tại xã hội).

Cũng có người cho rằng khán giả thời nay thích giải trí, vậy phải đưa giải trí vào thật nhiều. Không đúng! Nghệ thuật vốn có chức năng giải trí “Nghệ thuật là niềm vui lớn nhất mà con người tự tạo cho mình” (Các Mác). Vậy nghệ thuật chân chính, nghệ thuật đích thực đã là món giải trí lớn nhất rồi, không cần phải pha thêm nhiều phụ gia gay cấn, lạ lẫm vào. (Dĩ nhiên có thêm chút ít càng vui thôi, nhưng không nhất thiết phải đậm liều). Có nơi nào đó, cho nhiều phụ gia quá, biến hài kịch thành hề kịch, lâu dần khán giả ngán, bỏ, lại phải tìm về với nghệ thuật đích thực.

Một điều nữa là trình độ khán giả ngày nay đã cao mà kịch bản của ta cứ nông choèn như vũng nước, thì không thu hút được khán giả. Khán giả đến xem kịch không chỉ để cười, để giết thời giờ mà còn để suy ngẫm, chiêm nghiệm nữa, vì thế ngôn ngữ kịch nên thâm thúy, đa nghĩa (đa nghĩa chứ không phải tối nghĩa). Kịch phải là một “trò chơi trí tuệ”, nghĩa là tạo cho người ta những khoái cảm trí tuệ. Mặt khác, tác phẩm cũng phải làm cho khán giả đắm chìm trong cảm xúc, cảm xúc từ chính tác giả truyền qua nghệ thuật nhờ sự thăng hoa của rung động cực điểm của trái tim. Tóm lại, phải bỏ những lối mòn, lối viết theo kiểu quen tay. Mỗi kịch bản phải là một thông điệp, thông điệp Đời, thông điệp sống bằng hình tượng, bằng xung đột nghệ thuật. Thông điệp đó chính là thực đơn chính của vở, các thứ khác như tính ngoạn mục của trang trí, tiếng hát, điệu múa phải là một phần máu thịt của hình tượng và nếu như nó có thêm một tác dụng phụ nào đó thì nó phải như vị thuốc bắc trong một món gà tần ngon.

Cuối cùng, vẫn là vấn đề đầu tiên: vấn đề kịch bản. Hãy mở những cuộc thi viết, cuộc vận động viết, chọn ra những vở hay mà tiêu chí thứ nhất là khả năng thu hút được khán giả. Khả năng thu hút đó cần được đánh giá một cách khách quan, dân chủ từ tiên lượng nghiêm cẩn, không định kiến, không thiên vị, không độc quyền. Nhiều cuộc thi chọn được vở hay nhưng không để dùng mà để cất đi vào kho lưu trữ cho các nhà phê bình, nghiên cứu sân khấu tương lai vào lục tìm. Đừng để “đồng tiền xấu đuổi đồng tiền tốt” như quy luật tiêu tiền của các bà đi chợ. Tôi tin rằng trong ngăn kéo của chính nhiều nhà viết kịch hiện nay cũng có nhiều vở hay không được dùng vì lí do này, lí do khác. Nếu các tác giả tự tin về khả năng thu hút khán giả của mình, hãy báo cáo với Hội, hãy công bố dưới hình thức ấn phẩm và Hội cũng nên tổ chức in ấn những tác phẩm ấy.

Đông đảo khán giả vẫn đang chờ chúng ta cống hiến cho họ những vở có giá trị, đáp ứng được yêu cầu thưởng thức của họ, những vở chúng ta đã viết, đang viết và sẽ viết. Hãy tin vào khán giả, cũng như hãy tin vào chính mình mà nâng cao chất lượng tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm. Đó là con đường hữu hiệu nhất để giành lại khán giả cho sân khấu hôm nay.