Sưu tầm: NSND Nguyễn Hoàng Tuấn
Ký hiệu học trong sân khấu
Rhonda Blair và John Lutterbie
Bài tóm tắt nghiên cứu nhận thức thần kinh trong lĩnh vực sân khấu của Rhonda Blairis-giáo sư chuyên ngành Nghệ sĩ-Hình ảnh-Hành động Sân khấu thuộc Hội nghiên cứu Sân khấu Mỹ, và John Lutterbieis –giáo sư đại học Brook, giám đốc điều hành Ban Văn học và Kịch bản Mỹ.
Khoa học nhận thức liên quan tới những bình diện cơ sở của tồn tại và kinh nghiệm sống con người, cho nên đây là một phần cần thiết của công tác nghiên cứu cơ bản trong sân khấu và biểu diễn. Những ngành khoa học này đưa ra những con đường mới để nhận thấy mối quan hệ giữa đầu óc và thân thể, những định nghĩa mới về các khái niệm như tình cảm, cảm hứng, hành động…và nhất là những định nghĩa mới về “tự thân” và “cái khác”. Những điều này không nhất thiết đòi chúng ta gạt bỏ các cách tiếp cận khác bằng các mô hình khác trong sân khấu, nhưng hẳn sẽ bổ xung các phương pháp phụ trợ sâu sắc hơn, tạo ra công cụ mới đầy triển vọng trong lĩnh vực nghiên cứu sân khấu.
Nghiên cứu về hệ thống đồng bộ thần kinh dựa trên bằng chứng năng lực bắt chước có cơ sở hệ thống từ thời Plato và Aristotle. Chúng đã miêu tả quan hệ vật chất giữa hành động bắt chước và sự việc đang diễn ra, và đó chính là khởi đầu để những người như Diderot và Stanislavsky mở rộng và đào sâu các ý tưởng về việc tạo ra năng lượng của “cái thần kỳ”. Nhận thức ngôn ngữ, trong thực tế của quá trình nhào trộn và cô đọng, mang ý nghĩa “cách đọc đóng gói” văn bản kịch ở mức độ sâu sắc khiến cho chúng ta thấy được cách các con chữ bước ra khỏi tác phẩm và thấm vào cơ thể. Lý thuyết của các hệ thống năng động đưa ra cách biểu diễn chống lại hai mặt không thống nhất là tư tưởng tình cảm và cơ thể, đưa ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa cá thể và thế giới, đồng thời cho thấy quan hệ căng thẳng giữa cảm hứng sáng tạo và sức ỳ ngần ngại thay đổi. Khoa học này soi sáng các phương diện trong con người chúng ta- trí tuệ, tình cảm, cơ thể- từng phần của quá trình phức tạp mà chúng ta gọi là một người đang sống, soi sáng chúng ta gắn bó chặt chẽ với nhau và với môi trường như là các sinh vật theo cách nào. Khoa học nhận thức bao trùm và định hướng các chuyên ngành nhận thức tâm lý học, nhận thức ngôn ngữ học, thần kinh học, thần kinh ngôn ngữ học, nhận thức nhân trắc học và một số khác. Paul Broca, năm 1861, đã phát hiện quan hệ giữa một vùng não bộ và khả năng nói. Năm 1961, Ivan Pavlov công bố phát hiện về phản xạ phản ứng. Công trình này, và một số công trình khác, như của Ivan Sechenov, đặt nền móng phương pháp nghiên cứu hành vi trong tâm lý học và phân tâm học về sau. Đến giữa thế kỷ 20, nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực khác cũng để lại ảnh hưởng đáng kể cho khoa học nhận thức trong bước đi đầu tiên của mình. Ferdinand Saussure và Charles Peirce đặt ra các nguyên tắc đầu tiên của ngôn ngữ học trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20. Năm 1914, Viktor Shklovsky phát triển một kỹ thuật nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca, thường được gọi là chủ nghĩa hình thức. Năm 1929, nhà ngôn ngữ Roman Jakobson đặt nền móng chủ nghĩa cấu trúc để làm cơ sở nghiên cứu ngôn ngữ. Chiếc máy tính đầu tiên ra đời năm 1936, tạo hy vọng máy thao tác tương tự bộ não người. Giữa những năm 1950, Noam Chomsky đề xuất hướng nghiên cứu khoa học nhận thức theo phương pháp tiếp nhận và xử lý tri thức, ngược với phương pháp chủ nghĩa duy vật khử của B.F. Skinner. Những năm 1950 đến 1980, thế hệ những nhà khoa học nhận thức đầu tiên đã hình thành, đề ra các lý thuyết đáng chú ý có xu hướng ly khai các khía cạnh vật lý trong hoạt động của não bộ. Từ đây, khoa học thần kinh học thực sự bắt đầu. Đồng thời, các nhà thần kinh học cũng đã xác định được các cơ sở vật lý của nhận thức, phát hiện nhiều khu vực não có chức năng chuyên biệt, và trong một số trường hợp, học được cách não bộ tích lũy và biến đổi kinh nghiệm (ví như vỏ não của các nghệ sĩ đàn dây khiến tay họ dài hơn người thường), làm rõ một số cơ chế chức năng ghi nhớ. Năm 1970, các nhà thần kinh học phát hiện cơ sở của trí nhớ là sự thay đổi cấu trúc thần kinh. Cuối những năm 1970, máy quét ra đời, cho phép chụp ảnh các hoạt động trong não. Máy cộng hưởng từ ra đời cuối những năm 1990, cho ta thấy hình ảnh động của quá trình hoạt động nơron thần kinh. Sân khấu trung tâm hoạt động thần kinh đã mở ra. Tiến bộ trong dự án lập bản đồ gen và phát triển trí khôn nhân tạo có sự hỗ trợ của máy tính tốc độ cao tạo ra hứng thú to lớn tìm hiểu não bộ. Cách giải thích trước đây về quá trình nhận thức như là hoạt động tắt-bật của các mã nhị phân trong máy tính đã rạn nứt khi phát hiện ra hoạt động thần kinh phức tạp hơn. Để chống lại cách nhìn ban đầu đơn giản của các nhà khoa học máy tính và các ý tưởng khoa học viễn tưởng như của William Gibson cho rằng có thể download tính chủ quan cá thể con người qua không gian mạng, Antonio Damasio tìm ra các hình ảnh phức tạp của quá trình nhận thức luôn phải diễn ra trong não vì có tính chất gắn dính liên kết chặt chẽ với cơ thể và biết phản ứng với môi trường. Khoa học nhận thức bước vào giai đoạn mới, bước ra khỏi phòng thí nghiệm, muốn nhận biết nhiều thứ, nhất là tìm hiểu xem nhận thức tư tưởng tình cảm xuất hiện như thế nào, có liên hệ gì đến ngôn ngữ, xúc động, và các mối quan hệ qua lại của con người với thế giới đã được nhân cách hóa thành hình mẫu tiểu biểu rõ ràng. George Lakoff và Mark Johson biện luận rằng cảm giác của cơ thể phải là một phần của cái cơ thể đang tồn tại, nên sẽ là nguồn gốc của những ẩn dụ trong suy nghĩ, nguồn gốc của ý nghĩa, của các giá trị, tức là “phần lớn các suy diễn hàm ý có tính khái niệm, trước hết, là suy diễn hàm ý có tính cảm giác vận động”. Cùng một số khác, họ cho rằng hình ảnh là động cơ chính của ý nghĩa và ẩn dụ là trung tâm của nhận biết. Họ miêu tả cách thức các không gian trí tuệ khác nhau- tức là các gói khái niệm nhỏ, hoặc các hình ảnh cấu tạo nên cách thức suy nghĩ và nói năng- kết nối với nhau theo những con đường mới mẻ như thế nào để giúp chúng ta thương lượng dàn xếp cuộc sống. “Các mớ dữ liệu đầu vào” được kết hợp với nhau để sáng tạo tri thức mới, cách nhìn nhận mới, kinh nghiệm mới to lớn hơn “đầu vào”, làm thành một không gian khái niệm pha trộn hỗn hợp. Cách pha trộn mang tính ý thức ở mức độ nào đó, nhưng chủ yếu là vô thức. Chúng ta không thể biết chính xác quá trình pha trộn này xảy ra thế nào. Việc phát hiện ra cơ chế gương trong hoạt động thần kinh khỉ năm 1996 đã thúc đẩy việc nghiên cứu hệ thống thần kinh mô phỏng bắt chước của người, nhưng lại đặt ra thêm nhiều câu hỏi hơn về bản chất của tự thân, của bắt chước, của thiện cảm và hành động. Antonio Damasio đặt vấn đề ý thức theo hướng giả thuyết “đánh dấu triệu chứng tế bào sinh dưỡng” do ông đề ra. Thuyết đánh dấu triệu chứng tế bào sinh dưỡng miêu tả các trạng thái cơ thể kết nối với loại nhận thức nào phản ứng hoặc diễn dịch được trạng thái cơ thể đó. Tức là não bộ sẽ tạo ra trước hết các đường dây dẫn ra cơ thể nào có liên hệ với cảm xúc (ở đây có nghĩa là một trạng thái sinh lý của cơ thể) để rồi tạo thành cảm giác (một ý thức “đăng ký” thành trạng thái cơ thể), dẫn đến một hành vi có thể liên hệ hoặc không liên hệ đến suy nghĩ lý chí tỉnh táo hoặc lẽ phải. Một số nhà thần kinh học khác lý giải chúng ta là ai theo chức năng hoạt động chủ yếu của chúng ta dựa trên đặc điểm của mô thần kinh hoặc khớp nối thần kinh. Như Elizabeth Wilson miêu tả quá trình nhận thức là “sự lây lan kích thích thần kinh tràn khắp mạng lưới các đơn nguyên có vai trò như một tế bào thần kinh kết nối chặt chẽ”, tức là “kiến thức vốn tiềm tàng, được cất giữ đúng là trong các khớp nối chứ không trong các đơn nguyên”. Cách tiếp cận “sinh thái” như thế này cũng thấy trong các nghiên cứu của Edelman và Tononi, hai người tin rằng những chức năng cao cấp của não bộ, bao gồm cả nhận thức, bị qui định bởi và đòi hỏi có được ảnh hưởng tương tác với thế giới và những người khác. Vậy là ý thức chỉ xuất hiện do quá trình tiến hóa rất đặc biệt của thể chất cơ thể con người nhằm thích ứng với môi trường đã thay đổi cả về mặt thế giới tự nhiên lẫn cách tổ chức cộng đồng nhân loại.
Khoa học lâu nay luôn thông báo cho chúng ta những vấn đề của sân khấu và biểu diễn, nhưng cũng đặt ra hạn định cho việc quan hệ và cảnh báo việc áp dụng khoa học vào nghệ thuật. Khoa học xử dụng cách nghiên cứu rút gọn- thử nghiệm lặp lại các biến số có hạn, để đưa ra kết quả trong quá trinh qui nạp. Trong nghệ thuật và khoa học nhân văn, lý thuyết (hay cho đúng hơn theo thuật ngữ khoa học, là giả thuyết) có tính diễn dịch đặc thù, thường dựa trên khảo sát văn bản và các mẫu vật tạo tác của lịch sử, dựa trên quan sát biểu diễn hoặc đánh giá kinh nghiệm dưới lăng kính khuôn cốt định hướng của phê phán thực tế, triết học, chính trị, luôn có phần mức độ đánh giá chủ quan. Các loại chứng cứ khoa học khác nhau, từ thần kinh cho tới ngôn ngữ, đều rất hữu ích trong các phương diện khác nhau của hoạt động sân khấu và biểu diễn, nhưng không thể đem áp dụng trọn gói tất cả. Trong lúc có mầy mò học áp dụng chúng, ít nhất cũng cần chú ý mấy điểm sau. Thứ nhất, phải rất cẩn trọng áp dụng những kết quả nghiên cứu thần kinh như trong các thí nghiệm về nhận thức. Ví như cơ chế gương thần kinh của khỉ không có nghĩa tức khắc rõ ràng là con người cũng có gương thần kinh như khỉ và gương thần kinh khỉ cũng có chức năng tương tự ở người. Hoặc phát hiện hệ thần kinh mô phỏng bắt chước ở người không khẳng định bản chất của chúng ta là cảm thông. Thứ hai, phải phân biệt những dữ liệu trình bày trong lý thuyết khoa học, tức là hiện tượng được quan sát lặp lại đó rất dễ xảy ra trong thí nghiệm, rất khác một suy đoán, suy đoán là cách có thể giải thích cho một hiện tượng chưa hẳn đã xảy ra trong thí nghiệm. Thứ ba, phải biết nhạy cảm trước những mâu thuẫn và bất đồng giữa các cách giải thích của các nhà khoa học về việc họ đã phát hiện bằng thí nghiệm và luận giải thí nghiệm như thế nào. Thứ tư, nhất thiết phải phân biệt những đặc điểm riêng của các trường phái khoa học nhận thức, xử dụng những phương pháp luận và các thông số riêng khác cả về mặt ngôn ngữ lẫn thần kinh. Cuối cùng, ta phải tôn trọng sức mạnh, dù có ý thức hay không, của ẩn dụ và bản năng con người là luôn có xu hướng tư duy ẩn dụ và suy diễn theo mẫu tương tự, mà như Amy Cook đã viết : “chúng ta sống pha trộn cho hòa hợp”.
Chúng tôi đã chọn khảo sát 4 bài viết về những nguyên tắc nhận thức trong lĩnh vực nghiên cứu sân khấu và trình diễn. Trong “Hecuba hay Hamlet, nghĩ về Xúc cảm và Thiện cảm trong sân khấu”, tác giả Amy Cook dùng nhận thức ngôn ngữ học và các nghiên cứu về thiện cảm để tìm hiểu nguồn gốc văn bản và tiếp nhận, đồng thời đề cập bản chất tự nhiên của nhà hát. Cook bóc gỡ các con đường của cả nhận thức hình mẫu nhân cách hóa và nhận thức vây áp đóng gắn, những gì vốn luôn dựa vào am hiểu văn hóa, đến nay vẫn còn gây tranh cãi trong một sự kiện văn hóa. Bài viết cũng giải thích các cách khác nhau để khiến sinh ra cảm giác và thiện cảm khi nghe và xem vở diễn, nhất là ảnh hưởng của vị trí chỗ ngồi tác động đến khán giả. Tác giả Wanda Strukus trong “Khai thác Khiếm khuyết vật lý trong vở diễn và Động năng thiện cảm” cũng đề cập đến thiện cảm, nhưng phát hiện bản chất tự nhiên trong phản ứng của khán giả đối với hình thể diễn viên, so sánh các hạn chế của thần kinh mô phỏng bắt chước và hệ thống gương để giải thích phản ứng của người xem khi thấy trên sàn diễn cảnh ngồi xe lăn, cụt chân tay, thần kinh không bình thường…Tác giả thách thức chúng ta suy xét lại cảm giác nhận diện diễn viên, giúp chúng ta hiểu vì sao bộ phận cơ thể thiếu hụt hoặc khác lạ ảnh hưởng dễ dàng hoặc tự động lên thần kinh gương và mô phỏng khi xem biểu diễn. Tác giả Pil Hansen trong “Bơi theo khái niệm nghệ thuật viết kịch” thúc đẩy nghệ thuật viết kịch trên cơ sở nghiên cứu trí nhớ và hình ảnh. Tác giả miêu tả quá trình phát triển vở diễn thông qua các tên gọi và danh xưng, đề xuất lý thuyết nói rằng khái niệm và trí nhớ tạo khả năng cho nhà viết kịch hiểu được động lực của diễn viên và đạo diễn tham gia diễn tập, một điều rất có ý nghĩa trong việc thấu hiểu và đưa ra gợi ý hữu ích để các nghệ sĩ lựa chọn tham gia phát triển kịch. Bài viết cũng cho thấy người xem cần được giải thích trước để tiên đoán, ví dụ như khuôn thức phản ứng ứng xử trong một tình huống nhà hát. John Emigh trong “Ký ức thể xác, Ma quỷ, mặt nạ, nguyên mẫu và các hạn định văn hóa” vẽ các cấu trúc thần kinh một cách khoa học để thảo luận về các nguyên mẫu mặt nạ trong các nền văn hóa khắp thế giới đã thể hiện cấu trúc các cơ quan cảm giác của não bộ như thế nào. Các mặt nạ đầy vẻ sợ hãi dùng để che chở bảo vệ “cách điệu phóng to cực đại các biểu hiện cơ thể để phản ánh các nhánh thần kinh đại diện tiêu biểu của cơ quan cảm giác trên tân vỏ não”. Tác giả cũng cho biết cách biểu thị trong diễn xuất có thể liên quan tới bản đồ thần kinh và các tế bào cảm thụ giống như những mặt nạ kia đã được vẽ ra.
