Sưu tầm:NSND Nguyễn Hoàng Tuấn
Mãi nhớ vị thủ trưởng
đã vĩnh viễn đi xa.
GS.TS Đình Quang
Vào năm 1960, tôi mới tốt nghiệp đại học đạo diễn sân khấu ở nước ngoài về. Thuở đó nước ta đã mời hai chuyên gia Liên xô sang giúp đào tạo cho ngành Điện ảnh và bổ túc nghiệp vụ cho Đoàn kịch TƯ. Ta cũng đã thành lập Trường Ca kịch Dân tộc gồm ba ngành: Tuồng, Chèo, Cải Lương. Tuy ai cũng thấy còn thiếu Kịch nói, đó là bộ môn sân khấu dẫn đầu trong việc thể hiện cuộc sống đương đại, nhưng ai sẽ đứng ra đảm nhiệm việc này? Các nghệ sĩ kịch nói lớn tuổi tuy đã có nhiều cống hiến và kinh nghiệm nhất định, nhưng chưa quen với phương pháp đào tạo khoa học mới.
Tôi và đạo diễn Trần Hoạt là hai người đầu tiên của nước ta được đào tạo một cách chính quy. Đạo diễn Trần Hoạt được phân công về phụ trách Sân khấu Hà Nội, còn tôi đảm nhiệm lớp bồi dưỡng cán bộ sân khấu phía Bắc do Vụ Văn hóa quần chúng tổ chức. Vậy ai sẽ đứng ra xây dựng trường kịch nói đây? Các anh Nguyễn Đình Nghi và Ngô Y Linh sau tôi một niên khóa còn chưa tốt nghiệp. Tôi dự cảm thấy mình sẽ khó tránh khỏi nhiệm vụ này.
Giữa lúc đang băn khoăn thì đồng chí Bí thư Đảng đoàn Bộ cho gọi lên. Thú thực, suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, tôi phụ trách Đoàn kịch quân đội Quân khu 4 rồi Bình Trị Thiên chưa quen biết nhiều lề lối làm việc ngoài cơ quan dân sự, cũng không biết tác phong lãnh đạo của thủ trưởng Bộ như thế nào.
Sau khi nghe chủ trương, tôi thắc mắc, sao ta không mới chuyên gia như bên Điện ảnh? Thủ trưởng cười: Việc ta tự làm được sao lại phải mời nước ngoài và Nhà nước cử người đi học để về làm cảnh à? Tôi lại hỏi, đây mới là dự kiến tham khảo hay đã quyết định? Thủ trưởng khẳng định đây là quyết định và vỗ vai tôi, cậu đã từng ở quân đội và biết rõ thế nào là quân kỷ rồi chứ, cũng nên nghĩ tới những người không có điều kiện được học tập như mình… Chuẩn bị dự án để báo cáo Bộ sớm.
Tôi đã xin cho các anh Ngô Y Linh và Nguyễn Đình Nghi rút ngắn thời gian thực tập. Chị Phạm Kim Oanh, tốt nghiệp diễn viên cùng về nước với tôi, chuyển từ quân đội ra. Về tổ chức, tuy Bộ quyết chúng tôi sẽ cùng chung với lớp Điện ảnh ở Trần Phú, nhưng tôi đề nghị Kịch nói cần là một Phân hiệu độc lập về chuyên môn, chỉ chung với Điện Ảnh về hành chính và tài vụ, hậu cần. Bộ đều đồng ý, riêng khi nghe tôi xin cả đạo diễn Chu Ngọc, vì có tham gia Nhân văn Giai phẩm đang phải lao động cải tạo ở Kiến An, thủ trưởng nhìn tôi hết sức ngạc nhiên. Thấy mắt ông nhìn tôi trừng trừng, tôi cấm khẩu luôn. Thời đó không có gì đáng sợ hơn là bị quy mất lập trường nhưng rồi ông dịu giọng, cậu đã đề xuất, chắc đã cân nhắc nghĩ kỹ, cứ thử nói hết đi. Tôi đánh bạo: “Về trường cũng là lao động, lại là lao động trí óc và nghệ thuật, còn phức tạp hơn là lao động chân tay, vả lại tôi đã quen biết ông ấy từ trong kháng chiến ở khu 4, ông là một đạo diễn nổi tiếng từ trước Cách mạng Tháng tám. Nếu Bộ tin ông, lòng tự trọng sẽ không cho phép ông phụ niềm tin của chúng ta”. Ông bảo để ông suy nghĩ thêm…và hôm sau, tôi được tin Bộ đồng ý. Tôi thầm nghĩ, ông đã nhắc tới quân kỷ nhưng đã không dập tắt mọi suy nghĩ của cấp dưới.
Học sinh tại các trường phổ thông Hà Nội và các tỉnh ít nhiều đã tham gia văn nghệ xin thi vào trường rất đông. Vì là khóa đầu, tổ chức Bộ cần duyệt danh sách thí sinh trúng tuyển, ông xem xong, băn khoăn nhìn tôi. Ông hỏi: Trường đã xem kỹ lý lịch chưa? Tôi vội thưa: có hai nữ là con gái nhà thơ Hoàng Cầm và nhà viết kịch Trần Tử Anh nhưng tôi nghĩ không nên bắt con cái phải chịu trách nhiệm ngược về những hành động của cha mẹ mình. Ông suy nghĩ một lát, rồi như một mệnh lệnh: “Phải nhớ trường không chỉ là nơi đào tạo nghệ thuật mà còn phải coi trọng trách nhiệm rèn luyện lập trường tư tưởng nữa đấy”.
Năm đầu, Phân hiệu Kịch phải đóng tạm ở cơ sở Trường Tiếng Đức cũ bên đường Hoàng Hoa Thám. Chỉ là những dãy nhà tranh vách đất cũ kỹ nhưng thày trò chúng tôi đã biến thành một mái trường đầm ấm. Thày và trò đều ở tại trường như một gia đình. Những đêm diễn kết thúc năm học đầu ở rạp Hồng Hà đã gây được tiếng vang rộng rãi trong dư luận.
Giũa lúc thày trò chúng tôi đang vui vì thành quả bước đầu thì nhận được tin xét đánh: Bộ quyết định Phân hiệu chúng tôi phải chuyển sang khu Điện Ảnh bên Cổ Loa Đông Anh, với lý do bên đó đã có mấy tòa nhà ngói khang trang bề thế hơn ở Hoàng Hoa Thám nhiều. Tôi đã không dám lộ cho ai biết vì sợ mọi người hoang mang và tự nhủ, nếu không quyết liệt thì sự nghiệp mới khởi sự này sẽ có cơ tan thành mây khói. Công văn phản đối của tôi đã gây phản ứng mạnh. Tôi bị triệu lên Bộ để giải trình và không ngờ cuộc họp lại đủ mặt các Ủy viên Đảng Đoàn, chỉ lướt nhìn qua tôi cũng đã thấy run. Với giọng nghiêm khắc, thủ trưởng cật vấn ngay. Vì sao tôi dám chống lại quyết định của Bộ? Và thế là một cuộc đối đáp căng thẳng nổ ra. Tôi tự nhủ thầm phải bình tĩnh, nhưng cũng lại nghĩ, nếu không dám cãi thì số phận của trường sẽ rất gay go. Một vài ủy viên đã hơi nổi nóng, nhưng liếc thấy thủ trưởng tuy cũng hơi đỏ mặt nhưng vội tự trấn tĩnh. Được đà tôi cố gắng trình bày để Bộ thông cảm. Tóm lại, qua một cuộc đối chất, tôi đã cố làm cho Đảng đoàn Bộ hiểu rõ quyết định thành bại của trường là ở khâu dạy giỏi và chăm tự rèn luyện của sinh viên. Cổ Loa tuy khang trang hơn nhưng liệu thày cô nào chịu lóc cóc đạp xe sang đó để chỉ nhận được mấy đồng bồi dưỡng. Và dù trường có xe ô tô đưa đón thì theo chương trình, một tuần mỗi môn chỉ có vài ba tiết học, một ngày phải xen kẽ đôi ba môn…làm sao giảng viên các môn khác nhau có thể rủ nhau cùng đi và đợi nhau cùng về, nếu không có xe đi về suốt ngày như mắc cửi. Trường cũng không thể dồn các môn học lý thuyết như Triết, Mỹ, Lý luận Văn học… lại thành từng đợt rất không phù hợp với khả năng tiếp thu của sinh viên còn ít tuổi, chưa kể những môn sáng tạo cơ bản, qua lý thuyết còn phải phát huy tưởng tượng sáng tạo, cùng tập với nhau rồi mới có tác phẩm nộp thầy. Học nghệ thuật cũng không nên tách mình ra khỏi môi trường nghệ thuật, sinh hoạt diễn xuất của Hà Nội. Tôi không ngờ, nghe xong thủ trưởng hỏi có ai phản bác nữa không. Mọi người yên lặng, với một giọng quyết đoán, ông tuyên bố: Thế là đã rõ. Quyết định của Bộ tuy là vì trường, nhưng không sát thì phải sửa. Khi cuộc họp giải tán, ông ôm vai tôi bảo tuy quyết thế nhưng ông chưa thật an tâm, vì thương thày trò phải vất vả với mấy dãy nhà tranh lụp xụp, học nghệ thuật là học về cái đẹp, nhưng lại nhếch nhác quá.
Cảm kích vì tấm lòng của ông, một mặt tôi phát động tinh thần làm chủ, biến những giờ lao động thành giờ thày trò cùng nhau tu sửa trường lớp, trồng cây bao quanh khuôn viên … khiến diện mạo trường ngày một khang trang. Nhiều lần ông xuống thăm trường thấy thày trò chúng tôi quây quần hớn hở, ông rất vui, như một người cha giữa bầy con. Tuy thế, tôi cũng dự cảm, trước sau Phân hiệu Kịch nói cũng cần sát nhập về với Sân khấu cho hợp lý về mặt tổ chức và nghiệp vụ. Tôi đã trao đổi với anh Hoàng Châu Ký, hiệu trưởng trường Ca kịch dân tộc bên khu văn công Cầu Giấy, lặng lẽ cùng nhau chuẩn bị trường sở. Đề nghị của tôi, một lần nữa lại gây ra ít nhiều ý kiến trên Tổ chức Bộ, cho tôi là người hay gây rối, nhưng thủ trưởng chỉ nhìn tôi không nói. Sau khi cùng tôi sang khảo sát thực địa, ông đã cùng Đảng đoàn quyết định: Phân hiệu Kịch nói chúng tôi sáp nhập với Trường Ca kịch Dân tộc thành Trường Nghệ thuật Sân khấu và dời đô sang khu Văn công Cầu Giấy. Khi trao quyết định, ông bảo tôi: Lần quyết định cho cậu ở lại Hoàng Hoa Thám, tôi yên tâm về chuyên môn nhưng không vui vì đời sống vất vả của các cháu, lần này khi hạ bút ký tôi thấy an tâm về chữ ký của mình hơn. Chuyện đã xảy ra cách đây nửa thế kỷ, nhưng mỗi khi nhớ lại tôi vẫn thấy vui, vì may đã có một thủ trưởng không chỉ nghĩ đến sự tôn nghiêm của một quyết định mà còn biết cân nhắc tới hiệu quả thực tế của nó, nghiêm khắc nhưng lại thực sự cầu thị và dân chủ, không chỉ vì sự thuận lợi của công việc mà còn vì cuộc sống của con người. Và thủ trưởng đã có tác dụng quyết định tới bước đầu sự nghiệp đào tạo của cuộc đời tôi đó chính là Tướng Lê Liêm.
