Sưu tầm: NSND Trần Thị Mai Hương
Một cảm nhận về Quy Nhơn
NSƯT Lê Chức
Tôi và một số các nghệ sĩ Sân khấu khu vực miền Trung vừa có được 3 ngày sống, hội họp, trao đổi về kết quả hoạt động nghề nghiệp của cả năm 2012 và dự kiến cho 2013 tại thành phố Qui Nhơn, Bình Định.
Sự quan tâm thấu đáo và tạo điều kiện đến chu toàn của UBND, Ban Tuyên giáo. Hội Văn học – Nghệ thuật, Sở VHTTDL, Đài phát thanh và Truyền hình, báo, tạp chí của địa phương, các Văn nghệ sĩ, nhà nghiên cứu nhiều thế hệ của Tuồng, Dân ca bài chòi Bình Định, … đã tạo nên làn sóng cộng hưởng với một Hội nghị tổng kết có nhiều yếu tố chất văn hóa, lịch lãm và kết quả cao hơn sự chuẩn bị và mong đợi.
Địa điểm Hội nghị được tổ chức là tại Nhà hát Tuồng mang tên Đào Tấn – Tổ ngành Tuồng; biểu diễn hát bài Chòi chào mừng là các Nghệ sĩ của Đoàn Dân ca địa phương.
Dường như kết quả của công việc đã làm cho chúng tôi hào hứng với 1 ngày lưu lại để trải nghiệm cảm giác được tiếp nhận một phần nào đó của nội hàm lịch sử - chiến tích – vẻ đẹp – tri thức xa xưa còn lại.
Đạo diễn Nguyễn An Pha, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Bình Định đã chủ động cho chúng tôi dừng lại ở Nhà hàng Hoàng hậu, không phải chờ để ăn sáng, uống cà phê ngon mà là được thưởng ngọn gió, nước và cảnh trí nơi địa điểm an lạc. Tôi chụp lại các bức ảnh cỡ lớn được trao ở đây về hoàng gia vị Vua cuối cùng của triều Nguyễn đã khép lại lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam.
Tôi đặc biệt bị hấp dẫn theo lời kể của Đạo diễn An Pha về cái “hoẳm nước” liền bờ với sự tích dấu ấn như là (như là thôi) đã có ai đó đặt ở đây 1 “cái bồn tắm” thiên nhiên để bà Hoàng hậu tắm ở đó. Nay thì “đương đại” đã phá mất câu chuyện và sự tích dấu ấn đó.
Tôi háo hức về dự định được đến đất Tây Sơn của Tam Kiệt họ Nguyễn và các Danh tướng ngày xưa của Đức Quang Trung Hoàng Đế; để được thêm một lần tưởng nhớ đến Nàng Công chúa Bắc Hà - Lê Thị Ngọc Hân và cái chết oan đắng sau này của Bà với các con; được thắt vào trái tim tôi nỗi đau lẫm liệt của Nữ Đô đốc Bùi Thị Xuân và Người con gái ở tuổi 15 cùng các tên tuổi như Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Ngô Thì Nhậm, …
Đã 5 năm trở lại đây tôi thường được thực hiện quá trình viết kịch bản, viết lời bình, thể hiện lời bình cho Lễ hội Kỷ niệm chiến thắng Đống Đa vào buổi sáng mùng 5 tháng Giêng âm lịch, theo yêu cầu của Cơ quan hữu trách thuộc Hà Nội. Tôi tìm chất liệu trong sách và từ điển lịch sử về các anh hùng, ngày tháng của sự kiện, số lượng tướng lĩnh, binh sĩ, … để sáng tác trong sáng tạo sao cho phù hợp với thời lượng 60 phút hào khí, hoành tráng, trung thực, thuyết phục đối với các nghệ sĩ tham gia và cả vạn người xem tại chỗ, triệu người xem truyền hình.
Dù đã có được 3 lần đến Qui Nhơn; Nhưng đây là lần đầu tôi được chủ động “lên kế hoạch” cho mình và đồng nghiệp để được đến tận nơi, hít thở ở đó, uống nước “giếng Hoàng đế”, hương khói để xin nhập tâm những gì mình thấy, mình nghe, … tạo nên sự âm ỉ ẩn dụ của kiến thức, … chuẩn bị cho lần Lễ hội 2014, 15, …
Tất cả, nhất là tôi … người chủ động nhập thế, bị hấp dẫn và lay động cảm thức trước cảnh đẹp danh thắng, độ rộng – sâu - ẩn tích của địa danh bất tử.
Tượng Đức Quang Trung cao đẹp giữa nắng trời và khung cảnh của cây đại thụ nhiều loại, nhất là “cây Me tổ” gốc vài người ôm đã làm nên sự gắn kết sinh động của cảm giác sống, linh thiêng với biến diễn tâm linh kỳ ảo.
Vị ngọt, độ lạnh của gầu gỗ nước giếng cứ lâng lâng.
Trước các tượng đồng cỡ lớn – tay ngai, thếp vàng của từng Danh vị hào kiệt – tôi như mê đắm và dừng lâu trước cặp tượng hai vợ chồng Đô tướng Trần Quang Diệu – Bùi Thị Xuân (tiếc là không có gì là dấu chân dung của Người con gái 15 tuổi cùng chịu hình oan với mẹ!). Tôi tưởng tượng ra đàn voi mà Bà từng thuần dưỡng, huấn luyện, ngự trên lưng, và cả Con voi mắt đầy nước chát khi giết hại Bà trong nỗi đau khủng khiếp của hình thức trả thù hành án ghê gớm.
Trong khói nhang, tôi nói thành tiếng lời khấn của mình: “xin được nhập tâm để tâm trí con được sáng láng hơn trong lần được tái hiện lại chân dung các thánh nhân với Lễ hội, Kỷ niệm vào mùa Xuân 2014. Chiều sâu linh thiêng trong Con chắc chắn sẽ đơm hoa kết trái bằng câu chữ và đội hình kết cấu”.
Rời mảnh đất thiêng – chúng tôi đến với tháp Chàm cổ kính đã bị tàn phai với gió nắng và cả sự vô thức của con người đang được trùng tu phục chế.
Nhìn các họa tiết, hoa văn, nét gốm, men đất nung xưa, tôi hiểu là khó mà trở lại hoặc đến gần nguyên gốc. Những “trám” chất liệu hôm nay làm nên sự nhẵn nhụi đến khô cứng và đơn lạnh đến độ không thể hòa nhập vào những gì là đất nung xưa; vậy mà theo chiều cao, các lớp gạch cứ xếp chồng lên nhau ngay ngắn, vuông vức. Không biết ngày đó thì chất gắn kết là gì?
Tôi trông vào các dàn giáo thép ống hôm nay đang bủa tròn quanh 3 tháp để “trùng tu” thì lại thấy con người hôm nay tỏ ra như phức tạp mà lại như thiếu đi tính kỹ càng, tinh xảo, lãng mạn của người xưa đã tạo nên các tháp ngạo nghễ “trơ gan cùng tuế nguyệt” giữa bão gió, mưa sa. Có lẽ tính bản lĩnh đó cũng góp phần làm tăng thêm tính linh thiêng của tháp Chàm trong văn hóa, tín ngưỡng, tập tục của người bản địa. Trăm năm rồi, dù có phôi pha, dù xung quanh đã hiện đại hóa vật đổi sao rời thì các tháp đơn, tháp đôi, ba, bốn, … vẫn sừng sững đứng đó với đầy vẻ tự hào về một lịch sử xa xưa, hấp dẫn và thách thức sự khám phá, tìm hiểu và tạm chấp nhận một phương thức khảo cổ là: cái gì còn chưa hiểu được thì cứ khoanh lại đã! Và tôi thấy có nhiều “dấu khoanh” đó: nào vuông, nào tròn để phơi ra 1 ụ đất xưa chắc chắn đá ong.
Tôi ghi lại bằng ảnh chụp sự ngơ ngẩn của mình trước ấn tượng to lớn của tháp, cửa tháp và cả hệ thống các họa tiết nhỏ giăng đầy 4 phía với các con thú ngộ nghĩnh, bầu sữa mẹ, … và tự dành ra cho mình một khu vực “không nên hiểu biết” để còn được hấp dẫn.
Tâm trạng đó dẫn lối tôi và cộng sự đến với Đồ Bàn xưa, nơi dấu tích bị pha trộn các mẫu mã và mầu sắc kiến trúc khác nhau (triều Nguyễn đã trùng tu và bổ sung). Dấu tích cột cờ, một góc tường vuông dầy dặn, 1 ao bán nguyệt có đường kính lớn, những nghê đá chơ vơ trong trời đất, phần mộ của Tướng quân Võ Tánh nổi gồ lên như chỉ là một phần “sinh địa”
Cứ phải nghĩ ngợi mãi về những “nước vôi” tươi rói quét phủ đi các lớp đá ong tự nhiên luôn gây ấn tượng về mầu nâu đỏ thiên nhiên.
Những con nghê đá, và nhất là 2 “thạch tượng” đã có từ lâu cho tôi một cảm giác về “mặt tiền” của đường vào di tích, ngày xưa chắc là rộng lắm. Buồn nhất là đôi ngà của Voi đá cũng bị “cưa đập” và lấy đi. Toàn cảnh gợi cho tôi một nỗi tha thiết nhớ và tưởng tượng về quá khứ oai liệt xưa.
Ngày đó - hẳn là người phải đông, quân tướng phải cơ ngũ, rồi voi gầm ngựa hý, vũ khí chạm nhau háo hức lập công. Còn nay – di tích như không có người tới, vắng hoe; trên bờ tường có ghi số điện thoại của bảo vệ (đi về nhà) – ai đó tới thì gọi … và ông bảo vệ cao tuổi sẽ đạp xe đến ngay!
Trong nội thành Qui Nhơn ngày đêm nhộn nhịp, lại là hai ngày thứ Bẩy và Chủ Nhật (ngày 30 và 31 tháng 3 năm 2013) với bao “khởi công” dự án lớn và “khánh thành” công trình đã hoàn thành. Xe công vụ từng đoàn chạy các hướng có xe Cảnh sát dẫn đường và khóa đuôi. Đêm đến thì đèn như sao sa, tiếng nhạc và lời ca từ các nhà hàng vang vang với cường độ âm thanh lớn. Quy Nhơn – Bình Định đang được tập trung đầu tư lớn để thay đổi mình. Đã hiện ra hình ảnh đường cáp treo ra đảo, những cây cầu mới, con đường 8 làn xe mới, … trong tương lai không xa.
Tôi đã từng ngỡ ngàng trước các dấu ấn văn hóa nghệ thuật cung đình bác học (Tuồng, hát Bội) và vẻ đẹp riêng biệt của Hô bài chòi Bình Định. Tôi bái kính trước Đào Tấn, Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu, và bao Danh nhân của vùng đất linh kiệt này. Tôi cũng đã có tham luận và phát biểu tại 2 hội nghị được tổ chức tại Thành phố Qui Nhơn; nhưng đây là lần đầu “neo lại” để biết được một chút về địa danh và con người ở đây; được thắp nhang cầu khấn Đức Vua, Bà Tướng, … mà bao năm ngưỡng mộ; được thấy sông Côn gần như cạn kiệt; được biết về loài “chim mía”, “chim lúa” nhỏ bé đang bị đánh bắt hàng ngày.
Đúng là đi một ngày đàng để có thêm được bao hiểu biết làm vốn cho kiến thức.
Tôi đã cạn nước trái dừa Bình Định
Đã tự gõ vào mình để thẩm nhận địa linh
Tháp Chàm uy nghiêm chung thủy một nghĩa tình
Cho tôi đến để lúc đi thì hồn ở lại
Giếng nước Hoàng đế, gốc me đại thụ
Không chút chua mà ngọt mật trong tôi.
Quy Nhơn, Bình Định ơi – thêm lần tôi đến
Cho tôi nặng hành trang nỗi nhớ
Cánh cửa đất linh rộng mở
Cho tôi những tích trầm oanh liệt xa xăm
Thâm trầm Tháp cổ trăm năm
Voi đá chầu chờ Anh hùng áo vải
Nghê thạch mỗi ngày thêm nắng rãi
Bạc trắng với thời gian
Cho tôi. Cho tôi. Một khoảng thắm mây ngàn
Làm cánh võng cho Hồn lưu dấu.
Bén rễ ở đây.
