Sưu tầm: Nguyễn Quốc Toàn

MỘT VÀI CẢM NGHĨ VỀ VỞ TÌNH SỬ THĂNG LONG

                                                                                                               Nhà viết kịch Giang Phong

Vừa qua, sân khấu Hà Nội được tổ chức liên hoan các vở diễn tại Thủ đô lần thứ 4 đã hội tụ được các đoàn, các nhà hát về thi tài.

Hơn mười vở, đủ các thể loại đã được trình diễn trước ban giám khảo và những khán giả yêu mến sân khấu. Đó là những vở: Người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng, Đợi đến mùa xuân và Bạch Đàn liễu của tác giả Xuân Trình, Đi tìm minh chủ của tác giả PGS.TS. Trần Trí Trắc, Thánh mẫu của cải lương Hà Nội; Lý Long tường của tỉnh Bắc Giang, Chuyện tình loa thành của thành phố Hồ Chí Minh, Người tốt nhà số 5 của tác giả Lưu Quang Vũ, Tiếng hát Trương Chi kịch nói Hà Nội, Tình sử Thăng Long nhà hát chèo Hà Nội.v.v.và v.v..

Nhìn chung các gương mặt tham gia hội diễn ta thấy phong phú, đa dạng. Sự cẩn thận chu đáo của tổ chức đã lôi kéo được các tỉnh ngoài tham gia với đề tài Hà Nội như vở Lý Long Tường của tỉnh Bắc Giang, Chuyện tình Loa Thành của cải lương Sài Gòn.

Chuẩn bị kết thúc năm 2020 trong tình trạng cả thành phố phòng chống covid với sự giãn cách, ít tụ tập đông.v.v.. thế mà sân khấu Hà Nội vẫn đỏ đèn trong các nhà hát, với người xem đã được vơi đi nỗi nhọc nhằn, những lo toan tạo được không khí học thuật lành mạnh, hấp dẫn của sân khấu Thủ đô. Đây là một nỗ lực lớn của Ban tổ chức, của các đoàn, của các đạo diễn, diễn viên, tác giả. Đó là một sự thành công lớn và đã thể hiện được lòng yêu nghề, trọng nghề của những người làm nghệ thuật.v.v…

Trong các vở diễn này, vở nào tôi cũng yêu mến, yêu mến trước hết về lòng say nghề, yêu nghề. Mỗi vở đã có sự tìm tòi, làm cho vở mới hơn, lạ hơn mặc dù những vở này đã có từ lâu, lâu lắm, nay đem về hội diễn. Có thể có ý kiến này, nọ nhưng tôi nghĩ trong tình hình sân khấu hiện nay như thế là đầy sự cố gắng của các đoàn, các nhà hát.

Với nhiều gương mặt của vở diễn, tôi xin có một vài cảm nghĩ về vở “Tình sử Thăng Long” của nhà viết kịch Phạm Văn Quí. Anh Quí cũng đã có nhiều vở diễn về lịch sử, như vở “Tả quân Lê Văn Duyệt”, “Tình sử vương triều” và “Tình sử Thăng Long”. Tuy tên là 2 vở, nhưng đó là một vở, xuất hiện đầu tiên với một đoàn văn công ở một tỉnh. Vở mang tên “Tình sử vương triều” nay về hội diễn Hà Thành, đổi tên là Tình sử Thăng Long cho gần với yêu cầu hội diễn chăng? Chuyện đó cũng không sao, đã nói được cái bi kịch của Lý Chiêu Hoàng, xoay quanh quyền lực.

Viết về bi tình sử với nội dung này, cũng đã nhiều người viết như: “Hoàng hậu hai vua”, “Độc thoại đêm” của tác giả Lê Duy Hạnh, “Anh hùng và mỹ nhân” của tác giả Chu Thơm. Người viết bài này cũng có hai vở kịch dài với nội dung bi kịch này. Đó là vở “Tình yêu hay quyền lực” viết về Trần Thủ Độ khi còn là thần dân ở đất Hải Lý Thái Bình. Vở này đã được giải chính thức của Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, vở thứ hai là vở “Hoàng cung buổi xế chiều” viết về giai đoạn Lý Chiêu Hoàng bị truất ngôi Hoàng hậu xuống làm công chúa. Được giải nhì của Liên hiệp văn hóa nghệ thuật Hà Nội về kịch bản viết về Hà Nội.

Con người lịch sử, các tác giả trân trọng không thêm bớt, song cách tổ chức phát triển kịch bản đa phần khi Lý Chiêu Hoàng phải nhường ngôi cho chị ruột là Thuận Thiên là xong vở. Thời gian lúc đó Lý Chiêu Hoàng đã ở ghế Hoàng hậu được 10 năm, khoảng bà 19 tuổi. Riêng vở “Anh hùng và mỹ nhân”  tác giả Chu Thơm kéo dài đến khi Lý Chiêu Hoàng 40 tuổi và đã có con với chồng là Lê Phụ Trần. Đoạn này chính Trần Cảnh chồng cũ của bà đã tác thành cho bà lấy Lê Phụ Trần. Người xem đau đớn, thông cảm kết một câu, đã tóm tắt được hết nội dung vở: “Chồng gả chồng cho vợ”.

Còn tác giả Phạm Văn Quí đã khai thác vấn đề này như thế nào. Chuyện đầy rắc rối, bạo liệt, tác giả đã rất xúc tích trong các xung đột. Tất cả các nhân vật đều phải hứng chịu chi phối trước sự đòi hỏi của tình nhà, nghĩa nước.

Tác giả Phạm Văn Quí đã để Trần Thủ Độ một mực phải đặt nhà nước lên trên, có người nói Trần Thủ Độ là một bạo chúa. Nhưng không phải thế, Phạm Văn Quí đã để Trần Thủ Độ là một người hết lòng với nước, hết lòng với triều Trần. Ông là người tài ba, là kiến trúc sư, là giường cột của nhà Trần. Sự kiên quyết ấy trở thành khắc nghiệt thì mới làm được. Bỏ Lý Chiêu Hoàng, bắt Thuận Thiên vợ của Trần Liễu là anh vua đã có mang 3 tháng phải ngồi vào ghế Hoàng hậu của em ruột để sau này có con nối dõi tông đường, hoàng tộc (vì Lý Chiêu Hoàng ở với chồng là vua Trần Cảnh 10 năm mà không có con). Phạm Văn Quí thấu hiểu chính trường, đã làm chính trị, làm vua, làm quan thì phải đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết. Đấy cũng là một thông điệp cho ngày hôm nay mà nhà hát chèo Hà Nọi đã diễn rất ngọt ngào, sinh động. Sự kiên quyết và dứt khoát ấy, trong Đại Việt sử ký toàn thư: Sử thần Ngô Sĩ Liên đã phán xét một câu: “Đây là việc làm của loài chó lợn” (quyển hạ, kỷ nhà Trần). Tôi đoán chắc rằng Phạm Văn Quí đã đọc Đại Việt sử ký toàn thư chính nhân vật Trần Thủ Độ là lời phản bác Ngô Sĩ Liên. Đấy là cách nhìn duy vật biện chứng của tác giả Phạm Văn Quí. Và cũng nhờ sự diễn xuất của diễn viên này đã nâng tầm khái quát về lòng trung thành với vua, với nước, với triều Trần để có được một Trần Thủ Độ, dù “bạo chúa”, nhưng chỉ để cho cái chung, chứ không phải cái riêng của Độ. Khi Trần Liễu mất vợ, uất ức làm phản, Trần Thủ Độ vây bắt được Liễu, thì Trần Cảnh để vua xử. Thế là anh em hòa, mục với nhau. Chỉnh ra, theo logic phản vua sẽ bị xử chém. Nhưng Trần Cảnh tha cho Trần Liễu. Trần Thủ Độ ức quá nói một câu: “Anh em họ coi ta như con chó” cũng để thấy rằng Độ một lòng với triều chính.

Trần Thị Dung là mẹ đẻ của Lý Chiêu Hoàng và Thuận Thiên. Dù đau đớn, nhưng Trần Thị Dung vẫn thiết tha thuyết phục hai con làm theo ý của chồng là Trần Thủ Độ. Đoạn diễn này vừa lý trí, vừa tình cảm làm rơi nước mắt của bao người, với những làn điệu chuyên dùng của Chèo, đã diễn tả được sự khắc khoải, ngột ngạt, mà sự việc này trong lịch sử hình như chỉ có một, chứ không có hai. Diễn viên đóng vai Trần Thị Dung đã lột tả được tấm lòng người mẹ, vì việc nước, việc nhà thì lọt sàng xuống nia. Đồng thời cũng khái quát được là người đàn bà Đất Việt trung hậu, kiên quyết, biết hy sinh quyền lợi cá nhân để đạt lợi chung. Tấm gương ấy, ngày nay vẫn còn rực sáng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp người mẹ bế đứa con chừng 2 tuổi cùng với hai cán bộ cách mạng, trốn tránh dưới hầm. Chẳng may con bà khóc, dỗ không được cuối cùng phải bịt miệng con để dấu yên cho cán bộ. Khi giặc đi rồi thì cháu bé ngạt thở đã chết. Đấy cũng là người đàn bà nghĩa khí vì dân vì nước (nói ví dụ cổ học tinh hoa).

 Suốt gần 2 tiếng đồng hồ, nhà hát chèo Hà Nội đã cuốn hút người xem, cuốn hút ban giám khảo. Vở cho ta hiểu, ta thấy, ta thán phục, những vua, quan, quân ở đất Thăng Long, mà do các diễn viên thủ vai, đã là những ngôi sao sáng trong cách sống, cách cai trị rất thế tất nhân tình thế thái cho an dân. Vua là tối thượng, Trần Thủ Độ là người giúp vua, giống như Nguyễn Trãi phò Lê Lợi. Tất cả đều phải theo triết lý: “Quân sử thần tử thần bất tử bất trung”. Dù xung đột bạo liệt, tưởng chừng có lúc đi vào bế tắc, nhưng tác giả Phạm Văn Quí cũng tựa vào triết lý ấy, đã giải quyết trọn vẹn. Lý Chiêu Hoàng xuống làm công chúa (sau này làm dân thường đi chân đất theo Lê Phụ Trần).

Tôi rất yêu vở diễn này. Đàn ngọt, hát hay, đạo diễn thông minh, khúc triết, chèo nhưng không rề rà, tiết tấu vừa phải, chuẩn về tâm lý nhân vật, nên khán giả xem rất có cảm tình.

Chỉ hơi tiếc là, chưa có một cảnh hoàn chỉnh giữa chồng Trần Cảnh và vợ Lý Chiêu Hoàng, bày tỏ, chia sẻ về nỗi rắc rối, oan nghiệt giữa chồng va vợ, giữa thanh thiên bạch nhật, không bão gió mà phải cách xa nhau. Thực ra đây là cơn bão lòng trong tình nghĩa phu thê. Trần Cảnh là một ông vua có tài đức độ, ông còn là một nhà thơ, nhà nghiên cứu sâu sắc. Ông đã viết “Khóa hư lục” đây là cuốn sách đã đặt nền móng cho thiên tông đời Trần mà sau này Trần Nhân Tông đã kế thừa và hoàn thiện. Ông đã để lại rất nhiều tác phẩm về thiền luận.

Một ông vua đa tài, tâm hồn thi sĩ (các hoàng đế nhà Trần thường đều là thi sĩ). Một nhà thơ, một nhà nghiên cứu, mà trước việc dáng chỉ cho vợ phải xuống làm công chúa. Sự việc ngổn ngang trong tình phu thê, thế mà lại thiếu nhiều về sự chia sẻ, sự khắc khoải, phải chia ly, mà không có được một cảnh trọn vẹ về vấn đề này, thật tiếc.

Vở này xứng đáng là vở đạt huy chương vàng không phải bàn cãi. Đấy là ý kiến riêng cá nhân tô. Điều này phụ thuộc vào ban giám khảo. Tôi rất kính trọng ban giám khảo, họ có kiến văn rộng uyên bác để nhận biết. Nhưng vở này chỉ được huy chương bạc, có oan hay không? Hay còn những chi tiết dở nào cuả vở diễn mà tôi chưa nhận ra được.

Tôi xin phép mạo muội được so sánh (ai cũng biết so sánh là một sự khập khiễng).

Vở Bạch đàn liễu đạo diễn rất thông minh, có ý tưởng làm mới vở diễn, để nâng hiệu quả của kịch bản. Đạo diễn đã dựng theo lối tả ý, ước lệ, giãn cách theo hệ của chèo Việt và Bec ton Bréc. Nhưng, xin phép đạo diễn, dựng như thế hiệu quả, tư tưởng chủ đề chưa tới ý của Xuân Trình là muốn nêu lên cái sự cường quyền, tính cường hào tự nảy nòi trong Đảng. Không khí ngột ngạt bất lương giữa người cầm quyền và nhân dân. Dù sự việc này ít thấy trong thời gian viết vở. Nhưng Xuân Trình đã báo trước cho Đảng biết, là có cường hào mới trong Đảng. Cho nên khi dựng, vở này để nguyên si như tác giả đã viết. Phải tả thực thì mới nêu được sự ngột ngạt bất nhẫn của ông Quyền phó chủ tịch phụ trách tổ chức. Nếu dựng theo lối tả ý, nên vở diễn còn chưa hoàn hảo cũng có thể đạo diễn biết được là như thế, nhưng tả ý để làm nhẹ sự ngột ngạt mà do cường hào mới của Đảng ở nông thôn đang ngóc đầu trỗi dậy? Vở này đã được huy chương vàng.

Tôi được biết vở này Xuân Trình viết ban đầu là một kịch ngắn. Hai tháng sau gặp lại Xuân Trình ông nói với tôi, viết ngắn, dung lượng không chuyển tải được, nên đã viết dài. Ông đọc cho tôi nghe, tôi có nói viết thế này có nặng lắm không? Thì ông trả lời phải viết tả thực thì mới bắt rõ chủ đề.

Kịch Bạch đàn liễu, chính Xuân Trình viết về hoàn cảnh của ông. Ông về quê, xin nhận thực của xã vào lý lịch của ông để về cơ quan kết nạp Đảng. Nhưng hai lần về, ông ủy viên thư ký ủy ban không chứng thực nói rằng nhà ông là địa chủ. Lần thứ ba ông về quê tiếp tục xin nhận xét. Hôm đó nhà ông đánh cá ao, ông bảo bà mẹ ông đem biếu ông ủy viên thư ký con cá trắm (ông ủy viên này cùng xóm vói Xuân Trình). Thế là tối ông đến xin dấu và nhận xét. Ông ủy viên thư ký ủy ban đóng dấu ngay (nhà tôi và nhà Xuân Trình cùng một xóm với ông ủy viên này) tôi hỏi Xuân Trình thì Xuân Trình hóm hỉnh nói có cá trắm dẫn đường xuôi rồi.

Đấy Bạch đàn liễu ra đời từ thực tế nhiễu nhương này mà người dân phải chịu, cán bộ cùng xóm, cùng làng, cùng lũy tre xanh mà đối xử hệt như cường hào, lý trưởng thời phong kiến. Số phận “Bạch đàn liễu” sau này như chúng ta đã biết. Xuân Trình thề không viết, quay bút đi nấu xì dầu bán, vợ thì bán cà phê, tiền tươi, thóc thật dính đến văn chương để bị xử là tù nhân không được xử mà vẫn phải cầm tù.

Xin nói thật tôi thích lối diễn của vở “Tình sử Thăng Long” còn vở “Bạch đàn liễu” tôi thấy Xuân Trình nói đúng, phải tả thực.

Hội diễn đã qua đi, huy chương vàng, bạc cũng đã lùi vào thời gian. Bạch đàn liễu hay Tình sử Thăng Long hay nhiều vở đã tham gia hội diễn, đã làm nên một vườn hoa nghệ thuật ở Thủ đô. Đấy là sự thành công lớn lao của ban tổ chức, Ban giám khảo, sức lao động nghệ thuật của các đoàn, các nhà hát, điều ấy không thể phủ nhận được.