Sưu tầm: NSND Nguyễn Hoàng Tuấn
NGUYỄN ĐÌNH THI VÀ THẾ KỶ 21
NHẬT HOA KHANH
Nguyễn Đình Thi ra đời năm 1924 tại Lu-ang Pra-bang ( Lào ) nhưng quê gốc là làng Vũ Thạch ( nay là đầu phố Bà Triệu ) – Hà Nội .
Khoảng 1940 , mới 16 tuổi , cậu học sinh tú tài Nguyễn Đình Thi bắt đầu xuất hiện trong giới trí thức qua một vài cuốn sách nghiên cứu triết học phương Tây .
Năm 1943,19 tuổi, với việc gia nhập Hội Văn hóa Cứu quốc, anh sinh viên năm thứ ba đại học Luật Hà Nội chính thức bước vào con đường hoạt động bí mật giải phóng dân tộc.
Năm 2003, tức 60 năm sau, ông qua đời tại quê hương Hà Nội.
60 năm hoạt động của Nguyễn Đình Thi trên lĩnh vực văn học nghệ thuật và chính trị là 60 năm hòa theo những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc.
* * * * *
- Ra trận như một người lính .
- Sáng tác nhiều tác phẩm ngay tại mặt trận dưới bom đạn .
- Bị cầm tù trong song sắt Sở Mật thám Pháp tại Hà Nội .
- Cùng Nguyễn Hữu Đang là đồng tác giả tác phẩm “ Một nền văn
văn hóa mới ” , bản tham luận quan trọng về văn hóa tại Quốc dân Đại hội Tân Trào ( tháng 8 / 1945 ) .
- Tham dự Quốc dân Đại hội Tân Trào ( tỉnh Tuyên Quang ) , được
cử làm Thư ký trưởng trong đại hội .
- Sáng tác nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại (âm nhạc , thơ ,
kịch nói , truyện ngắn , tiểu thuyết , v.v… ) .
- Viết nghiên cứu , chính luận , phê bình văn học , v.v…
- Đại biểu trẻ nhất quốc hội khóa 1 (1946 – 1958); ủy viên trẻ
nhất trong Ban Thường vụ Quốc hội khóa 1.(Cho đến nay, 2013, trong quốc hội vẫn chưa có đại biểu nào và ủy viên ban thường vụ nào của quốc hội
trẻ bằng).
- Ủy viên Uỷ ban Dân tộc Giải phóng (1945).
- Trực tiếp chấp bút bản Dự thảo Hiến pháp của Quốc hội khóa 1
(dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Võ Nguyên Giáp và sự giúp đỡ của nhiều trí thức, văn nghệ sĩ).
- Thay mặt Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật
Việt Nam đọc báo cáo tổng kết vụ “Nhân Văn – Giai Phẩm” (1958).
- Người duy nhất trong bộ máy lãnh đạo cao nhất của giới văn học
nghệ thuật cách mạng có số lượng tác phẩm bị “cấm” trình diễn nhiều nhất.
Nghệ sĩ ấy, nhà trí thức ấy, nhà hoạt động cách mạng ấy, người đảng viên cộng sản Việt Nam ấy là: NGUYỄN ĐÌNH THI.
* * * * *
ÂM NHẠC:
“ DIỆT PHÁT XÍT ” :
Năm 1945, mới 21 tuổi, về mặt sáng tác, Nguyễn Đình Thi lần đầu tiên ra mắt toàn dân bằng một bài hát chính trị mang tên “Diệt phát xít”.
Ngay sau khi ra đời, “Diệt phát xít” lập tức được học sinh, sinh viên cả nước hưởng ứng nhiệt liệt trong bối cảnh phát xít Nhật đã hoàn toàn chiếm được Việt Nam và Lào, Cam-pu-chia.
Khi cách mạng Tháng Tám bùng nổ ở Hà Nội , “Tiến quân ca” cùng với “Diệt phát xít” là hai bài hát được thanh niên, học sinh, sinh viên, công chức hát vang lên nhiều nhất.
Trong “Diệt phát xít” có một lời ca vô cùng giản dị nhưng hết sức thiêng liêng và chan chứa tình yêu nước:
(…) “Việt Nam!Việt Nam!Việt Nam! Ôi đất Việt yêu dấu ngàn năm! Việt Nam! Việt Nam muôn năm!”.
“Đất Việt yêu dấu ngàn năm!”. Đó là tiếng nói trái tim, tiếng nói tâm hồn mỗi công dân Việt Nam đối với tổ quốc!
“Đất Việt yêu dấu ngàn năm!”. Đó là tình yêu của mỗi công dân Việt Nam đối với lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc!
“Đất Việt yêu dấu ngàn năm!”. Đó là tiếng hô vang của Nguyễn Thái Học, Đội Cấn và biết bao nam nữ chiến sĩ yêu nước trước lúc bị xử bắn hoặc bị chém đầu!
“ Đất Việt yêu dấu ngàn năm ! ” . Đó là một trong những lời ca sâu sắc nhất , hay nhất , xúc động nhất , hùng mạnh nhất , thiêng liêng nhất trong âm nhạc yêu nước Việt Nam từ khoảng 1930 đến nay !
“ NGƯỜI HÀ NỘI ” :
“Người Hà Nội” là trường ca đầu tiên của âm nhạc Việt Nam nói chung, âm nhạc yêu nước Việt Nam nói riêng.
Đầu năm 1947, dưới lửa đạn cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Hà Nội, Nguyễn Đình Thi viết nhạc phẩm này .
“Người Hà Nội” dựng lên một Thăng Long – Hà Nội thanh bình, hào hoa, thơ mộng.
Không những thế , bản trường ca còn dựng lên một Hà Nội ngập trời khói lửa của chiến tranh cách mạng , một Hà Nội vùng lên từ mỗi góc phố đến mỗi căn nhà .
Không những thế, bản trường ca còn dựng lên một Hà Nội lắng hồn sông núi ngàn năm, một Hà Nội đỏ máu, một Hà Nội cuộn sóng sông Hồng, một Hà Nội “xác thù rơi dưới gót giầy” của anh vệ quốc.
Toàn dân Hà Nội trong “Người Hà Nội” chính thức mở đường cho cuộc trường chinh lớn lần thứ nhất của dân tộc ta thế kỷ 20.
Cho đến nay , nhạc và lời“Người Hà Nội” vẫn mới lạ, vẫn tươi sáng, vẫn hiện đại, vẫn thích ứng với thế kỷ 21, càng thích ứng với thế kỷ 21.
Toàn bộ lời “Người Hà Nội” tràn ngập chất thơ và tràn ngập các hình ảnh mới lạ, độc đáo:
(…) “Ầm ầm cười tiếng súng vui thay vang ngày mai sáng láng ...”
(…) “Nhìn đây máu chúng ta tươi bao nhiêu đất này ta tưới ngày mai vút lên”.
Toàn bộ lời “ Người Hà Nội ” là một bài thơ tự do không vần . Không vần nhưng toàn bộ lời “ Người Hà Nội ” , sang thế kỷ 21 , vẫn phát huy được cao độ sức mạnh của tiếng Việt .
Không nói đến công – nông một cách riêng rẽ, toàn bộ lời “Người Hà Nội” chỉ nói đến toàn dân (trong “toàn dân”, có công – nông).
Chính đặc điểm này đã góp phần quan trọng vào sự bền vững , vào tính dân tộc , vào sự bất tử của bản trường ca .
Hình ảnh những đôi mắt của các cô gái Hà Nội và hình ảnh những chàng trai Hà Nội bồi hồi nhìn ngắm những đôi mắt ấy một cách kín đáo:
(…) “Bồi hồi chàng trai những đôi mắt nào” (…).
Chất trữ tình của lời ca trên hòa vào chất hùng ca dưới đây một cách tự nhiên , không gượng ép :
(…) “Mai này lớp lớp người đi thét vang vang trời khải hoàn” (…).
Lời ca “Người Hà Nội”, sang thế kỷ 21, đã tươi mới, càng tươi mới, càng thích ứng với nhịp bước đấu tranh của toàn dân cho quyền con người.
