Sưu tầm: Nguyễn Quốc Toàn

NHỮNG KỶ NIỆM

VỚI DANH NHÂN TUỒNG TỐNG PHƯỚC PHỔ

 

NSƯT Nguyễn Gia Thiện

          Tôi biết bác Tống Phước Phổ từ  năm 1972 tại Khu Văn công Mai Dịch, Hà Nội nhưng thật sự sống gần gũi với bác từ 1977 ở  Nhà hát tuồng Đào Tấn,  Quy Nhơn. Ngày ấy tôi là một nhạc công trẻ  mới hơn  20 tuổi còn Bác đã ngoài 60, đầu tóc bạc phơ. Khi từ đoàn tuồng Liên khu V về Quy Nhơn, bác Phổ đã là một tác giả soạn tuồng nổi tiếng khắp cả nước nhưng tôi thật không ngờ bác lại vô cùng hiền hậu, giản dị, dễ gần.

Vì bác độc thân, già yếu nên bọn thanh niên chúng tôi trong nhà hát hay lại chơi và giúp bác những công việc lặt vặt đời thường. Thấy tôi ham đọc sách, chữ viết chân phương nên bác hay nhờ chép những kịch bản vì thời đó chỉ có máy đánh chữ giấy than nhòe nhoẹt nên bác không thích. Bác cứ viết tay rồi tôi chép lại. Vừa chép vừa được nghe bác giảng giải về những điển tích trong  tuồng, thế nào là gươm Phùng Hoan, áo Phạm Thúc, xe Huyện Tịch…nên tôi dần dần hiểu rõ thêm những câu hát trong tuồng cổ. Đặc biệt cách sử dụng ngôn ngữ của bác trong tuồng  mượt mà, dễ hát nhưng ý tứ lại rất sâu xa. Bác kể đã tiếp thu từ câu thơ của Nguyễn Du trong truyện Kiều: “Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng” để viết nên câu hát tuồng: “Tằm xuân dẫu thác vẫn còn nhả tơ”.

 Khi chép tới câu tuồng của Trưng Trắc trong vở “Trưng Nữ Vương”: “Từ khi phu quân tôi đi. Cúc trước thềm vừa mới tàn hoa. Đến bây giờ.  Mai đầu núi đã chừng nở nhụy. Mà sao phu quân vẫn chưa thấy về”. Bác giải thích cho tôi: “Hoa Cúc tượng trưng cho mùa thu, mà mới tàn thì đó là chỉ thời gian cuối Thu, còn Mai tượng trưng cho mùa Xuân, sắp nở nhụy có nghĩa là cuối Đông, như vậy là Thi Sách chồng Trưng Trắc đã đi khoảng thời gian ba tháng mà chưa về nên Trưng Trắc rất nóng ruột nhớ chồng. Câu tuồng thật hay và tôi nói lại với vợ (NSND Phương Thảo) lúc đó đóng vai Trưng Trắc. Phương Thảo rất thích và đã thể hiện vai diễn rất thành công. Văn chương hay như vậy nhưng bác rất chú ý lắng nghe mọi người góp ý. Đó là khi nghệ sĩ Võ Sĩ Thừa được nhà nước phong tặng danh hiệu NSND 1986, bác Phổ có làm một bài thơ chúc mừng:

Thân tặng câu thơ đến chúc mừng   

Mừng người nghệ sĩ của nhân dân

Đường sinh nẻo tử thân dày dạn

Đất Á trời Âu tiếng lẫy lừng

Len lỏi phong trần qua mấy lớp

Giữ gìn phong cách vẹn mười phân

Nêu gương mẫu mực cho đời trẻ

Học mãi người xưa học chẳng ngừng

Nguyên tác lúc đầu bác Phổ viết:

Đường sinh nẻo tử thân dày dạn

Đất Bắc trời Nam tiếng lẫy lừng

Khi chép lại bài thơ này, tôi có góp ý cho Bác: “Theo con thì chú Thừa đi biểu diễn quốc tế cũng nhiều vậy đổi lại là đất Á trời Âu tiếng lẫy lừng có được không bác?”. Bác gật đầu đồng ý sửa. Sau đó chú Thừa đã trân trọng thêu toàn bộ bài thơ treo ngay ngắn giữa nhà. Qua một thời gian, tấm liễn bị ố nên nghệ sĩ Phạm Hữu Thông đã chép lại trên giấy to và các con của NSND Võ Sĩ Thừa vẫn treo trang trọng bên bàn thờ cha mẹ.

          Các nghệ sĩ trong Nhà hát Tuồng Đào Tấn nói chung và vợ chồng tôi nói riêng đều kính trọng và hâm mộ bác Tống Phước Phổ. Suốt từ 1978 cho đến khi bác về  Đà Nẵng (năm 1989) thì năm nào Bác Phổ cũng đến nhà tôi đón Giao Thừa. Bác thương và đồng cảm với chúng tôi cũng là những người xa xứ tâm huyết với nghệ thuật Tuồng nên đến để động viên trong thời khắc thiêng liêng nhớ nhà. Con lớn của tôi nay đã hơn 30 tuổi vẫn nhớ cụ Phổ tóc bạc phơ thường xoa đầu và lỳ xì cháu giao thừa những năm ấy.

          Tuổi già, lại sống cô đơn nên bác Phổ dành hết tâm huyết cho nghệ thuật tuồng. Đôi khi bác cũng mua sổ xố và chơi vài con đề với số tiền nho nhỏ để kiếm tìm niềm vui. Những lúc trúng số,  bác tập hợp lũ thanh niên chúng tôi lại dẫn đi ăn cháo và bác cháu lại say sưa nói chuyện hát tuồng.

          Bác Phổ đã đi xa hơn hai mươi năm nhưng hình ảnh hiền hậu, tài hoa của bác vẫn mãi mãi in đậm trong ký ức của vợ chồng tôi, những người cháu, học trò gần gũi với Bác trong những tháng năm không thể nào quên.