Sưu tầm: Nguyễn Thị Vân
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP SÂN KHẤU
Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
TS. Trần Thị Minh Thu
Công nghiệp sân khấu nằm trong ngành công nghiệp văn hóa.
Công nghiệp văn hóa, hiện nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất, rõ ràng. Bởi lẽ văn hóa tồn tại trong mọi khía cạnh của đời sống xã hội, chứ không chỉ bó hẹp ở một số khía cạnh. Hơn nữa, mỗi quốc gia đều có một nền văn hóa riêng và sự phát triển kinh tế riêng, trong khi công nghiệp văn hóa lại là sự kết hợp giữa hai yếu tố: kinh tế và văn hóa.
Thuật ngữ “công nghiệp văn hóa” chỉ mới đối với Việt Nam, còn nhiều nước trong khu vực và trên thế giới thì không xa lạ gì. Năm 1948, Theodore Adorno và Max Horkheimer đã đặt ra thuật ngữ này và từ đó dần được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia. Công nghiệp văn hóa - theo định nghĩa của UNESCO và Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch GATT - là một phần của ngành công nghiệp sáng tạo, được hình thành từ sự kết hợp của sự sáng tạo, quá trình sản xuất và phân phối các sản phẩm, dịch vụ thuộc về văn hóa. Các sản phẩm và dịch vụ của ngành công nghiệp văn hóa về bản chất mang tính phi vật thể, được bảo vệ bởi luật sở hữu trí tuệ và mang lại lợi ích kinh tế.
Hiện nay, công nghiệp văn hóa được Chính phủ Việt Nam xác định bao gồm 12 lĩnh vực:
- Quảng cáo;
- Kiến trúc;
- Phần mềm và các trò chơi giải trí;
- Thủ công mỹ nghệ;
- Thiết kế;
- Điện ảnh;
- Xuất bản;
- Thời trang;
- Nghệ thuật biểu diễn;
- Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm
- Truyền hình và phát thanh;
- Du lịch văn hóa
Ở mỗi lĩnh vực đều có những đặc điểm riêng, nhưng đều có quy trình hoạt động chính: sáng tạo, sản xuất, phân phối dịch vụ và tiêu dùng sản phẩm văn hóa. Điều này có nghĩa là văn hóa là môi trường để phát triển công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, quá trình tạo thành sản phẩm công nghiệp văn hóa không dừng lại ở sáng tạo tác phẩm, mà phải đặt trong một quy trình sản xuất, phân phối và lưu thông được vận hành khép kín, tạo nên nguồn doanh thu và lợi ích kinh tế cho các chủ thể trong quy trình đó.
2. Công nghiệp sân khấu là ngành công nghiệp vừa chứa đựng những đặc điểm chung của ngành công nghiệp văn hóa, vừa mang nét riêng, đặc thù của lĩnh vực nghệ thuật sân khấu.
Công nghiệp sân khấu tập trung vào quy trình sáng tạo, sản xuất, phân phối, lưu thông các sản phẩm hàng hóa là các tác phẩm nghệ thuật biểu diễn trên thị trường. Các sản phẩm hàng hóa - tác phẩm sân khấu được đưa ra thị trường là các chương trình, tiết mục, vở diễn sân khấu… Chúng vừa chứa đựng trong mình những đặc trưng riêng biệt của loại hình, của loại thể, được tạo ra từ lao động trí tuệ của con người, tồn tại dưới dạng phi vật thể và có khả năng thỏa mãn nhu cầu tinh thần của cá nhân hay cộng đồng người; nhưng đồng thời lại là hàng hóa được sản xuất để đem ra trao đổi, mua bán trên thị trường văn hóa nhằm mục đích có được lợi nhuận kinh tế. Một khi đã là hàng hóa và được tung ra thị trường thì tất yếu sản phẩm nghệ thuật sân khấu (chương trình, tiết mục, vở diễn) của các đơn vị nghệ thuật phải được đảm bảo về bản quyền và được vận hành tuân theo quy luật cạnh tranh, quy luật cung – cầu.
Khán giả là một trong những thành phần quan trọng có vai trò quyết định đến sự sinh tồn của nghệ thuật sân khấu. Vì không có khán giả thì sẽ không có nghệ thuật sân khấu. Trong công nghiệp nghệ thuật sân khấu, khán giả chính là khách hàng bỏ tiền ra mua và tiêu dùng (xem, nghe) các sản phẩm hàng hóa là những tác phẩm nghệ thuật sân khấu. Họ cũng quyết định đến sự tồn tại của công nghiệp nghệ thuật sân khấu. Bởi việc họ bỏ tiền ra mua và tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa là những tác phẩm nghệ thuật sân khấu hay không và ở mức nhiều hay ít về lượng sẽ tác động chủ yếu đến doanh thu, sự phát triển của công nghiệp sân khấu.
Để đưa loại hình nghệ thuật sân khấu trở thành sản phẩm công nghiệp nghệ thuật biểu diễn, cần hội tụ và kết nối đầy đủ 4 thành tố là vốn đầu tư, tài năng sáng tạo, công nghệ và kỹ năng kinh doanh. Điều này có nghĩa là, phải có nguồn kinh phí phù hợp để chi trả cho việc sáng tạo, sản xuất, phân phối, lưu thông sản phẩm nghệ thuật biểu diễn; đội ngũ sáng tạo phải có tài năng, kinh nghiệm, danh tiếng để thu hút công chúng, phải có sự liên kết một cách đồng bộ, chuyên nghiệp với nhau và với nhà sản xuất; sử dụng các công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hình thức phân phối, lưu thông và hấp dẫn công chúng; phải có kỹ năng kinh doanh để nắm bắt được nhu cầu của thị trường, am hiểu quy trình sản xuất, xây dựng thương hiệu cho tác phẩm, đạo diễn, diễn viên, tổ chức sự kiện, phát triển khán giả. Đó là sự kết hợp cần thiết để một tác phẩm nghệ thuật sân khấu được sản xuất và đem ra thị trường trở thành một sản phẩm của công nghiệp văn hóa.
3. Các giá trị của công nghiệp sân khấu
Thứ nhất công nghiệp sân khấu mang lại lợi ích kinh tế. Lợi ích kinh tế ở đây thể hiện ở chỗ công nghiệp nghệ thuật biểu diễn đã đem lại công ăn việc làm cho nhiều người, nâng cao thu nhập cho người lao động, đem đến lợi nhuận cho các doanh nghiệp, tăng doanh thu cho ngành công nghiệp văn hóa và ngân sách quốc gia, thúc đẩy sự phát triển, thịnh vượng của các địa phương.
Thứ hai, công nghiệp sân khấu góp phần bảo tồn và phát huy, phát triển nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Nghệ thuật sân khấu truyền thống do nhân dân lao động sáng tạo nên và được lưu truyền qua nhiều thế hệ, chứa đựng tinh hoa văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, nhiều loại hình, thể loại nghệ thuật sân khấu truyền thống có nguy cơ mai một, thất truyền. Với việc đưa nghệ thuật sân khấu truyền thống trở thành sản phẩm công nghiệp văn hóa, nghệ thuật sân khấu truyền thống có cơ hội được khai thác, bảo tồn, phục hồi và phát triển trong đời sống đương đại.
Thứ ba, công nghiệp sân khấu đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Điều này thể hiện ở chỗ để bắt kịp với các trào lưu, xu hướng trên thế giới và đáp ứng nhu cầu của công chúng, các nhà sản xuất tạo ra các sản phẩm không chỉ mang bản sắc văn hóa dân tộc, mà còn phải có sự tiếp thu những thành tựu của văn hóa thế giới để các sản phẩm công nghiệp sân khấu, bên cạnh tính dân tộc, còn có tính hiện đại, mới mẻ, độc đáo.
Thứ tư, tạo điều kiện cho tài năng phát triển. Tài năng trong công nghiệp sân khấu được thể hiện thông qua các “ngôi sao” – thần tượng (idol). Họ là những nghệ sĩ trẻ tuổi, có ngoại hình đẹp, có tài năng nghệ thuật, được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp cao, có lối sống lành mạnh, trong sạch, thu hút đông đảo người hâm mộ (fans).
Thứ năm, góp phần quảng bá văn hóa dân tộc, tăng cường “quyền lực mềm” của quốc gia. Thông qua các tác phẩm nghệ thuật sân khấu độc đáo, công chúng quốc tế được chiêm ngưỡng, thưởng thức và hiểu được những tinh hoa văn hóa dân tộc. Thông qua sự phổ biến của các sản phẩm nghệ thuật, tầm ảnh hưởng của các thần tượng đối với người hâm mộ, sẽ tạo nên sức hút mạnh mẽ để người hâm mộ quan tâm, tìm hiểu, yêu thích văn hóa của chính nơi đã sản sinh ra tác phẩm nghệ thuật và thần tượng đó. Đó là con đường hữu hiệu quảng bá văn hóa dân tộc, tạo cho quốc gia gia tăng vai trò của mình trong quan hệ ngoại giao quốc tế.
4. Thực trạng phát triển công nghiệp sân khấu ở Hà Nội hiện nay
Ở lĩnh vực nghệ thuật sân khấu, có ba hướng hoạt động cơ bản:
(1) Sân khấu công lập tự chủ một phần kinh phí thường xuyên–được Nhà nước bao cấp toàn diện từ người nghệ sĩ đến sáng tạo tác phẩm và biểu diễn trước công chúng. Nghệ thuật của mô hình sân khấu này mang khuynh hướng: chính thống, chuyên nghiệp, chủ yếu dàn dựng các vở diễn để phục vụ chính trị, phục vụ lễ hội theo hình thức hợp đồng, hoàn toàn xa lạ với công nghiệp văn hóa, công nghiệp nghệ thuật biểu diễn.
Có một số nhà hát tổ chức vài hoạt động tiếp cận với các doanh nghiệp, các công ty, các tổ chức xã hội để “xin” ít tiền tài trợ. Cách làm này, qua ý kiến của các nghệ sĩ, còn mang tính cá nhân, gặp chăng hay chớ, khi có khi không, lúc nhiều lúc ít và mang hình thức “xin cho kiểu mới”, khiến các nghệ sĩ vô cùng cực nhọc. Vì, 90% các doanh nghiệp ở Việt Nam là vừa và nhỏ, tồn tại bấp bênh,. Hơn nữa, ở Việt Nam vẫn chưa có chính sách cụ thể mang tính pháp quy về thu hút huy động vốn trong xã hội hóa sân khấu. Do đó, việc làm của một số đơn vị nghệ thuật công lập chỉ là “ngẫu hứng”, “thân quen” và thiếu chiến lược, khoa học, hiệu quả…
(2) Sân khấu công lập tự chủ hoàn toàn – có 1 đơn vị là Nhà hát Múa rối Thăng Long. Do ở vị trí “vàng” ngay bên Hồ Hoàn Kiếm và do Múa rối nước là thể loại độc nhất vô nhị trên thế giới, nên Nhà hát chủ yếu tồn tại nhờ vào du lịch và diễn các tiết mục cổ đã sẵn có.
(3) Sân khấu xã hội hóa – có CLB Sân khấu Lệ Ngọc và Lucteam là sân khấu bầu chủ, tự chủ, tự tồn tại theo khuynh hướng “tư nhân hóa”, “phi nhà nước” …nhưng vẫn “vắng khách”.
(4) Một lĩnh vực nữa thể hiện sự gắn kết giữa công nghiệp sân khấu với công nghiệp giải trí và công nghiệp du lịch văn hóa Việt Nam là sự xuất hiện các chương trình biểu diễn thực cảnh gắn với các khu vui chơi giải trí và điểm đến du lịch như: “Tinh hoa Bắc Bộ” của Công ty CP Tuần Châu Hà Nội có sự tham gia của 200 diễn viên, gồm 120 diễn viên nghiệp dư tại địa phương và 80 diễn viên chuyên nghiệp, được đầu tư 500 tỷ đồng, khai thác các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian, trong đó có nghệ thuật múa rối nước; sử dụng các hệ thống sân khấu, kỹ thuật, âm thanh, ánh sáng, công nghệ nhạc nước… để tạo nên những hình ảnh sống động, tinh tế, mang tới chương trình thực cảnh đáp ứng cả yếu tố nghệ thuật lẫn giải trí.
Như vậy, từ thực trạng trên, chúng ta có thể nhận diện công nghiệp sân khấu Hà Nội như sau:
- Công nghiệp sân khấu đang bước đầu phát triển ở Hà Nội. Tuy nhiên, công nghiệp sân khấu mới chỉ xuất hiện ở doanh nghiệp, phạm vi nhỏ, chứ chưa có ở các đơn vị nghệ thuật biểu diễn công lập.
- Lĩnh vực sân khấu hoạt động yếu ớt, khủng hoảng thiếu khán giả, các vở diễn đa phần đi vào đề tài quá khứ, kịch bản cũ, dàn dựng thiếu đổi mới, sáng tạo, dẫn đến không bán được trên thị trường, doanh thu thấp.
Nguyên nhân dẫn đến điều trên là do mấy yếu tố sau:
(1) Cơ chế chính sách còn chưa phù hợp để thúc đẩy sự phát triển công nghiệp nghệ thuật sân khấu.
(2) Thiếu hụt nguồn nhân lực ở một số bộ phận trong thành phần sáng tạo, sản xuất và phân phối, lưu thông sản phẩm nghệ thuật sân khấu.
(3) Đa số nguồn nhân lực hiện có, nhất là ở các đơn vị công lập còn thiếu và yếu về kỹ năng quản trị nghệ thuật, kỹ năng kinh doanh.
(4) Cơ sở vật chất còn nghèo nàn, các trang thiết bị kỹ thuật lạc hậu, cũ kỹ, không đáp ứng được nhu cầu của công chúng và sức sáng tạo của nghệ sĩ.
(5) Thiếu sự hợp tác hiệu quả giữa các đơn vị, doanh nghiệp có liên quan đến lĩnh vực văn hóa nói chung và nghệ thuật biểu diễn nói riêng.
(6) Thiếu vốn đầu tư.
Những vấn đề trên là căn cứ để chúng ta hướng đến những giải pháp phát triển công nghiệp nghệ thuật biểu diễn ở Việt Nam.
5. Phương hướng phát triển công nghiệp sân khấu ở Hà Nội
Hiện nay, đất nước ta đã bước sang hiện thực mới đòi hỏi nghệ thuật sân khấu Hà Nội phải đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức, phương thức hoạt động để trở thành ngành công nghiệp đem lại nguồn lợi nhuận cao. Trong đó, bên cạnh khâu sáng tạo và sản xuất, việc tiếp cận công chúng cũng đòi hỏi nghệ thuật sân khấu Hà Nội phải thay đổi. Để cạnh tranh, tự chủ được trên thị trường, các đơn vị nghệ thuật biểu diễn không thể không làm tốt công tác marketing và xây dựng cho mình thương hiệu - một tài sản vô hình của các đơn vị trong cơ chế thị trường và cũng là tài sản quốc gia trong hội nhập quốc tế. Thương hiệu có thể coi là linh hồn, sức sống cho sản phẩm nghệ thuật biểu diễn. Thương hiệu càng mạnh, càng gây được ấn tượng trong tâm thức của người tiêu dùng, thì sản phẩm nghệ thuật biểu diễn càng được nhiều người xem bỏ tiền ra mua để thưởng thức.
Tuy nhiên, để làm được điều đó, nguồn nhân lực nghệ thuật biểu diễn Việt Nam cần phải không ngừng phát huy tài năng, nâng cao về chất lượng.
Một đơn vị nghệ thuật biểu diễn mà thiếu đội ngũ tài năng, thiếu những phương thức sáng tạo nghệ thuật mới thì đơn vị đó sẽ khó có thể phát triển và tạo ra những tác phẩm thực sự có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của công chúng cũng như của thời đại. Bởi vậy, việc tuyển lựa, đào tạo, phát huy tài năng, nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất nghệ thuật – nghệ sĩ là vô cùng quan trọng đối với sự sinh tồn của các đơn vị nghệ thuật sân khấu.
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực nghệ thuật biểu diễn còn phải được trang bị đầy đủ các kĩ năng về quản trị nghệ thuật, các kỹ năng kinh doanh để điều hành công tác tổ chức, sản xuất đạt hiệu quả và nắm vững được các quy luật kinh tế, sản xuất các sản phẩm nghệ thuật biểu diễn đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Nhằm tạo điều kiện cho công nghiệp sân khấu Hà Nội phát triển, Nhà nước cũng như UBND Tp. Hà Nội cần tháo gỡ kịp thời những rào cản, vướng mắc, khó khăn, xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý mang tính đặc thù cho nghệ thuật sân khấu hoạt động trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa một cách thuận lợi với tinh thần: tác phẩm là “hàng hóa đặc biệt”, các đơn vị là “cơ sở sản xuất kinh doanh” và nghệ sĩ là “nhà doanh nghiệp”.
Kết luận
Công nghiệp sân khấu Hà Nội, bên cạnh những kết quả đã đạt được, đang phải đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn, thách thức, xuất phát từ cả chủ quan lẫn khách quan trên con đường phát triển. Để đứng vững trước những khó khăn, thách thức trên, công nghiệp sân khấu Hà Nội cần phải nỗ lực tự đổi mới mình trên mọi phương diện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đi kèm với sự hoàn thiện, đổi mới các chính sách mang tính đặc thù riêng để mở hướng hoạt động phù hợp cho các nghệ sĩ, để các nghệ sĩ không bị nặng gánh, bị “nghèo đói”, không quay lưng với nghệ thuật biểu diễn và yên tâm giơ cao ngọn lửa nhiệt huyết để hoàn thành sứ mệnh để nghệ thuật sân khấu Hà Nội trở thành nguồn lực thúc đẩy sự đi lên của Thủ đô./.
