Sưu tầm: Nguyễn Quốc Toàn

Phát triển lực lượng nghệ sĩ biểu diễn sân khấu

trong tình hình mới

 

NSND. Bùi Thanh Trầm

Sân khấu Hà Nội từ 1975 đến nay vừa bảo tồn giá trị truyền thống, vừa đổi mới và hội nhập, với nhiều thành tựu đáng ghi nhận: tác phẩm phản ánh sâu sắc xã hội và con người, tác giả và các nghệ sĩ biểu diễn có ảnh hưởng mạnh mẽ, tích cực tới công chúng, các nhà hát được duy trì ổn định và phát triển, hoạt động biểu diễn phong phú, mang tầm quốc tế.

Có thể nói, Hà Nội là nơi quy tụ nhiều tác giả nổi danh như: Lưu Quang Vũ, Xuân Trình, Chu Thơm..., nhiều đạo diễn sân khấu nổi tiếng cả nước như NSND Trọng Khôi, NSND Doãn Hoàng Giang, NSND Lê Hùng, NSND Anh Tú, NSƯT Chí Trung, NSND Lan Hương, NSND Hoàng Dũng, nhiều nghệ sĩ gạo cội đóng vai trò trụ cột của sân khấu Việt Nam như các nghệ sĩ: Tất Đạt, Đức Thịnh, Trần Vượng, Bạch Lan, Bạch Tuyết, Xuân Biên, Minh Hùng, Lệ Hằng, Trần Anh Hùng, Nhật Linh, Thu Hiền, Thanh Nga, Quốc Chiêm, Lâm Bằng, Thanh Loan, Xuân Bắc…Nghệ thuật biểu diễn Xiếc với các nghệ sĩ Kim Anh, Quang Minh, Nghệ thuật múa rối nước với Thanh Hiền, Nguyễn Hoàng Bảo Khánh, Lê Chí Kiên, Nguyễn Quốc Vũ... làm thành một đội ngũ nghệ sĩ diễn viên thế hệ nọ nối tiếp thế hệ kia mạnh mẽ, tài năng và nổi tiếng.

Hiện nay, nhiều văn nghệ sĩ cao tuổi vẫn tâm huyết tiếp tục sự nghiệp sáng tạo; lớp nghệ sĩ trẻ có nhiều cố gắng tìm tòi cái mới, năng động, tự chủ, đem đến cho đời sống nghệ thuật sân khấu nước nhà triển vọng phát triển mới trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. 

Tuy nhiên, trong một thời gian dài, do việc bổ sung, thay thế lực lượng trẻ, kế cận khó khăn, nên hầu hết nhà hát và các đơn vị nghệ thuật hoạt động theo dạng “có gì dùng nấy”. Vì thế, khán giả chứng kiến không ít cảnh “khóc cười” trên một số sân khấu truyền thống khi nhiều diễn viên gạo cội phải “cưa sừng làm nghé”, vào vai nhân vật trẻ tuổi hay thiếu niên. Sự gò ép này ít nhiều ảnh hưởng tới chất lượng của vở diễn, cũng như làm giảm độ thu hút của chính loại hình sân khấu đó trong mắt người xem. Các cụ thường nói “thầy già, con hát trẻ”, tức là, sân khấu biểu diễn phải là nơi dành cho người trẻ mới cuốn hút và hấp dẫn người xem, thì nay lại toàn các diễn viên cứng tuổi đảm nhận.

Với những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật và người yêu sân khấu, họ đã quen trước thực tế ấy. Biết vậy, song các nhà hát phải bất đắc dĩ chấp nhận thực tế như một “phần tất yếu”. Theo quy định, mỗi nhà hát hiện nay được phân bổ số biên chế nhất định, nên việc tuyển biên chế cho nhóm diễn viên trẻ, mới gần như không có. Họ chỉ có thể sử dụng nhóm diễn viên trẻ bằng hợp đồng tạm thời hoặc hợp đồng kinh tế, trả lương theo khung quy định vốn rất thấp, trong khi vẫn phải trả lương cho đội ngũ nghệ sĩ lớn tuổi nhưng không diễn, đang chờ về hưu. Số diễn viên trong biên chế diễn được lại khiến các nghệ sĩ trẻ không có chỗ để thể hiện.

Cứ thế, tình trạng bất cập này vô tình lấy đi “đất diễn” của các nghệ sĩ trẻ, dẫn đến suy giảm đam mê, động lực để họ tiếp tục với nghề. Trong bối cảnh đồng lương của nghệ sĩ nói chung còn thấp, việc không được thường xuyên biểu diễn buộc những nghệ sĩ trẻ phải tìm mọi cách để mưu sinh trước khi mong bám nghề. Có nghệ sĩ lựa chọn nghỉ việc dù mới vào nghề được một thời gian. Có người chọn chuyển sang lĩnh vực khác với hy vọng kiếm được nhiều tiền hơn. Từ đó, câu chuyện thiếu diễn viên trẻ tại một số nhà hát, đoàn nghệ thuật trở thành vấn đề kinh niên. Và đó là lý do tại sao “con hát” lại “già”!

Một vài năm gần đây, giới văn nghệ sĩ ở lĩnh vực nghệ thuật truyền thống rất mừng khi nhiều đề án được đưa ra để triển khai như Đề án bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống; Quy hoạch tổng thể phát triển nghệ thuật biểu diễn năm 2020, định hướng 2030; Đào tạo bồi dưỡng nhân lực văn hóa nghệ thuật ở nước ngoài đến năm 2030… Tuy nhiên, những đề án này theo thời gian vẫn chưa cho thấy dấu hiệu khởi sắc. Mặc dù đã tích cực tìm kiếm, huy động “đầu vào” nhưng hầu hết các cơ sở đào tạo vẫn nằm ở tình trạng chung “khát” học viên vì các bộ môn nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo hay cải lương… không những khó về mặt chuyên môn mà còn khó cả về mặt cảm thụ. Đây là những bộ môn đòi hỏi người học phải có độ am hiểu tương đối về văn hóa, lịch sử, xã hội… và hơn hết là tình yêu với nghề. Chính vì vậy, các cơ sở đào tạo không những phải chật vật tuyển sinh mà còn phải chọn lọc rất kỹ càng trong số ít ỏi những hồ sơ đăng ký thi tuyển. Mặt khác, chương trình giảng dạy các bộ môn nghệ thuật truyền thống ở Việt Nam không gợi được niềm đam mê cho sinh viên, vẫn chú trọng lý thuyết mà xem nhẹ thực hành. Hiện số lượng học sinh theo đuổi nghệ thuật truyền thống rất ít. Có lẽ do mảng này không có bề nổi, khó nổi tiếng so với dòng nhạc hiện đại. Hơn nữa, nghệ thuật truyền thống có độ khó cao, thường là nghệ thuật tổng hợp, đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hát, diễn xuất, hình thể, vũ đạo… Với đặc thù như vậy, cộng với tâm lý thích nổi tiếng nhanh cũng như đầu ra khó khăn khiến cho nghệ thuật truyền thống ít thu hút lớp trẻ. Bên cạnh đó, nhiều nghệ sĩ khá bức xúc khi trước chế độ, chính sách về giảng viên chưa hợp lý…

Ngoài ra, đào tạo tài năng trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật là một ngành nghề đặc thù đòi hỏi một quá trình liên tục, thường xuyên, lâu dài, bởi tài năng nghệ thuật gắn liền với yếu tố bẩm sinh, với truyền thống nghệ thuật của gia đình, dòng họ.  Để trở thành nghệ sĩ tài năng phải có quá trình khổ luyện, rèn giũa bền bỉ không chỉ với cá nhân mà cả với đội ngũ thày cô huấn luyện. Vì thế đòi hỏi một sự đầu tư tương xứng của gia đình, nhà trường, nhà nước và phải chấp nhận sự rủi ro, thua lỗ. Có một quy luật nghiệt ngã trong nghệ thuật là thời gian đào tạo, huấn luyện dài, gian khổ nhưng khoảng thời gian tỏa sáng, thăng hoa lại mang tính thời điểm, hữu hạn, gắn liền với tuổi thanh xuân và giai đoạn sung sức nhất của nghệ sĩ. Khi bước sang tuổi trung niên, nhiều nghệ sĩ ở một số loại hình nghệ thuật bắt đầu giải nghệ, lui vào cánh gà hoặc đảm nhận những công việc hành chính khác.

Mặc dù trong những năm qua, công tác đào tạo, giảng dạy, nghiên cứu trong các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật có nhiều đổi mới, từng bước bắt kịp xu thế hiện đại của thế giới với việc đẩy mạnh ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin, internet. Tuy nhiên, so yêu cầu thực tiễn thì những đổi mới trong đào tạo nghệ thuật, nhất là với nghệ thuật truyền thống còn chậm, nặng về lý thuyết và những kiến thức hàn lâm; thiếu việc trao truyền, giảng dạy những bí quyết, những kỹ xảo, kỹ năng trong thực hành, trình diễn. Hệ thống giáo trình giảng dạy của một số môn chậm cập nhật những thông tin, tri thức mới. Khung chương trình đào tạo toàn khóa còn có sự đan xen của nhiều môn ít liên quan đến ngành nghề đào tạo, có sự dàn trải, ôm đồm, thiếu chọn lọc. Phương pháp truyền dạy của một số thày cô chưa thỏa mãn nhu cầu, thị hiếu của người học, khả năng vận dụng những phương tiện hiện đại trong giảng dạy còn hạn chế. Đây cũng chính là nguyên nhân cản trở sức nghĩ, sức sáng tạo của người học, dẫn đến thiếu vắng những công trình, tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu, đỉnh cao để cống hiến cho công chúng. Lối mòn trong giảng dạy, nghiên cứu nghệ thuật, chậm tiếp cận những thành tựu của nghệ thuật thế giới khiến nhiều ngành nghề, lĩnh vực nghệ thuật khó có thể cất cánh, vươn xa.

Có thể nói, nghệ thuật là một nhu cầu không thể thiếu của con người. Đời sống văn hóa tinh thần có phong phú hay đơn điệu, nghèo nàn, phụ thuộc phần lớn vào đội ngũ những người sáng tạo, trình diễn nghệ thuật. Vì thế, chăm lo đào tạo, bồi dưỡng tài năng trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật là một yêu cầu cấp thiết, nhất là trong bối cảnh hiện nay để tạo ra không gian, môi trường sống lành mạnh, nhân văn, hướng con người đến những điều lớn lao, cao đẹp, thánh thiện. Để tạo nguồn nhân lực chất lượng cao với những tài năng nghệ thuật, đòi hòi sự vào cuộc của các cấp, các ngành và toàn xã hội, trong đó có vai trò tiên phong của các cơ sở đào tạo. Phải tạo được sức hút (từ cơ chế, chính sách, môi trường học tập, uy tín, thương hiệu của nhà trường…) để trao cơ hội và đánh thức niềm đam mê, sáng tạo của thế hệ trẻ. Từ đó góp phần quan trọng vào sự thành công của công cuộc xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam hiện nay.