Sưu tầm: Trịnh Quang Thanh

SÂN KHẤU HÀ NỘI VỚI BƯƠC ĐI ‘CÔNG NGHIỆP VĂN HOÁ “    

                                                                                                                                                Tác giả: Nguyễn Hiếu

    Cuộc hội thảo của chúng ta diễn ra trong không khí cả nước ta nói chung và Hà Nội nói riêng đang diễn ra sự chuẩn bị kỉ niệm lần thứ 47 ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. Không khí này làm tôi nhớ đến cuộc đổ bộ của sân khấu miền Bắc mà chủ yếu là các đoàn kịch, nhà hát của Hà Nội và trung ương vào  là biểu diễn ở TPHCM và các tỉnh miền nam chỉ sau ba, bốn tháng miền nam giải phóng. Đoàn kịch nói Hà Nội, Đoàn kịch nói Nam bộ, Nhà hát kịch Việt nam, Đoàn kịch nói tổng cục chính trị, Nhà hát Tuổi trẻ …với hàng loạt kịch mục như kẻ đốt đèn, Nối gió, Cách mạng, Tổ quốc, Lam Sơn tụ nghĩa…Với phong cách chính kịch hoàn toàn khác hẳn vở diễn, cách diễn quen thuộc khiến khán giả Sài Gòn và các tỉnh thành miền nam nô nức đi xem tạo ra một không khi mới cho sân khấu miền nam. Sự giao thoa của nghệ thuật sân khấu hai miền nhất là phong cách diễn của mang đặc trưng Hà Nội đã mang lại những hiệu ứng nghệ thuật tốt đẹp cho sân khấu hai miền. Cuộc đổ bộ thứ hai diễn ra tại hội diễn sân khấu toàn quốc đợt 2 vào tháng 8/1985 với thành công của 5 vở diễn mùa hè ở biển,Tôi và chúng ta ,Lịch sử và nhân chứng, nhân danh công lý và Đỉnh cao mở ước đã thêm một lần khẳng định thế mạnh của sân khấu Hà Nội. Và cuộc đổ bộ thứ ba phải nói là dũng cảm và mạnh mẽ của đơn vị sân khấu tư nhân Lệ Ngọc đang là hiện tượng của sân khấu không chỉ của Hà Nội mà cả làng sân khấu Việt Nam. Nhất  là đợt biếu diễn 11 ngày với 22 xuất diễn trong tháng ba vừa qua với bốn vở diễn có phong cách hoàn toàn khác nhau đã tạo ra một dư chấn lớn. Trong hoàn cảnh đại dịch cô vít vẫn chưa ngớt, việc khán giả đông nghịt trong 22 xuất diễn tại nhà hát lớn TPHCM đã thêm một lần minh chứng sức hấp dẫn của sân khấu theo trường phái Hà Nội.

         Điểm lại mấy lần đổ bộ của sân khấu Hà Nội vào TPHCM và các tỉnh miền nam để thêm một lần đi khẳng định. Hà nội là thủ đô, là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của cả nước và cũng là trung tâm sân khấu cả nước. Tố chất của sự trung tâm này không chỉ trong một hoặc từng thời gian mà nó bao gồm trong cả quá trình dài của sự phát triển sân khấu nước ta. Không phải ngẫu nhiên kịch phẩm đầu tiên của kịch nói của sân khấu Việt nam “Chén thuốc độc “được công diễn tại Hà Nội. Phong cách chính kịch, hàn lâm là phong cách chủ đạo của sân khấu Hà Nội đã tạo ra những thành tựu lớn trong làng sân khấu nước ta. Cũng chính từ sân khấu Hà Nội đã từng là cái nôi của sân khấu hài đúng nghĩa với tên tuổi của nhà viết – đạo diễn kịch hài Lộng Chương. Và sân khấu Hà Nội cũng là sàn diễn của những danh tác sân khấu mẫu mực thế giới như kịch Xếc xpia với hàng loạt vở diễn đạt hàng kinh điển như Hăm Lét, Mác Bét, Jomeo và juliet, hài kịch của Mô li e, kịch tâm lý, cách tân của Văm pi lốp… Ở sàn diễn của sân khấu Hà nội cũng là nơi mà các tác phẩm văn học Việt nam thuộc hàng mẫu mực như tác phẩm của Nguyễn Du, truyện ngắn của Nam Cao, truyện ngắn Nguyễn Tuân…được chuyển sang sân khấu…..Còn một điểm nữa, sân khấu xã hội hoá của Hà Nội tuy chậm bước hơn TPHCM và các tình phía nam, nhưng với sân khấu Lệ Ngọc cùng với những thành công của mình trong cả nước đã khẳng định thế mạnh của sân khấu xã hội hoá của Hà Nội….

         Điểm qua những thế mạnh  của sân khấu Hà nội hay đúng  nghĩa hơn là sân khấu thủ đô để thấy rằng Hội sân khấu Hà Nội đã nhìn ra rất trúng và đúng khả năng và vị trí dẫn đầu của sân khấu Hà Nội trong khung cảnh chung sân khấu cả nước. Chủ đề được hội thảo hôm nay “ Sân khấu Hà Nội với công nghiệp văn hoá “ là sự đón nhận kịp thời và khá nhanh nhậy bước đi của nền sân khấu đương đại.

         Sân khấu Hà Nội với nhiều thế mạnh là thế nhưng trong thời gian qua phải thừa nhận rằng nó cũng không thoát ra được tình trạng chung của sân khấu cả nước – Đó là sự suy thoái. Đó là vở dựng ra không có người xem. Đó là sự tắt đèn dài dài của các điểm diễn, của các đơn vị sân khấu, đó là sự quay lưng của khán giả. Có thể viện dẫn đến đại dịch cô vít đã gây ra những tác động to lớn làm ngừng trệ các hoạt động văn hoá xã hội, trong đó có sân khấu. Nhưng nếu nhìn vào sân khấu Lệ Ngọc . Ngay trong những ngày đại dịch hoành hoành, đơn vị sân khấu tư nhân này thường xuyên dựng đúp hai vở diễn. Và cũng trong những ngày cô vít đáng sợ đó vở diễn nào cũng kín chật chỗ ngồi trong rạp. Bài học ở đây là gì nếu không phải là việc tìm ra “Cái gì đã tạo ra động lực lôi kéo khán giả đến sàn diễn”. Điểm thứ hai là chương trình sân khấu truỳên hình của Hải Phòng. Các đoàn kịch các thể loại của Hải Phòng trong hai năm của đại dịch từ kịch nói, cải lương đến chèo và múa rối liên tục, sôi nổi và hào hứng dựng các vở mới để đưa lên công diễn trên truyền hình – một cách phổ biến kịch phẩm rất phù hợp với hoàn cảnh đại dịch-. Và được đông đảo người xem thưởng thức và hoan nghênh. Hải Phòng làm được việc duy trì sân khấu trong đại dịch. Còn Hà Nội ta thì không. Sân khấu Hà Nội hai năm đại dịch gần như ngủ đông, túc tắc, hi hóp chờ thời. Bài học ở đây là gì nếu không phải là sự quan tâm của lãnh đạo thành phố, của các ban ngành Hà Nội.

          Nói đến Công nghiệp là nói đến sản xuất lớn quy mô, phương pháp hiện đại để cho ra những sản phẩm chuẩn mực được người tiêu dùng ưa chuộng và tin tưởng. Đó là công nghiệp cho hàng tiêu dùng bình thường, còn đây là hàng văn hoá , nói cụ thể hơn là sân khấu và sàn diễn của kịch.Tôi chợt nhớ đến cuộc hội thảo về sân khấu chèo vừa diễn ra ở Nhà Hát chèo Việt nam, và được nghe lại về sự tranh cải quyết liệt của hai luồng tư tưởng. Một muốn giữ chèo đến tận cùng như cha ông ta đã làm từ đó phê phán gay gắt các vở diễn chèo là kịch có cắm bài hát và cho rằng đó là phá chèo. Một muốn đổi mới không thể để anh bộ đội trước khi ra trận còn bảo “ tôi ra đây có phải xưng danh không nhỉ “. Chủ đề hội thảo và hai luồng tư tưởng về chèo thực ra không mới mà nó đã từng bùng phát từ khi NSNS Doãn Hoàng Giang dựng kịch bản “Nàng Si ta “. Vở diễn này cũng từng bị kêu là phá chèo mặc dù người đến xem nườm nượp. Với tư cách là một kịch tác gia yêu chèo, tôi không bàn về hai dòng tư duy đối lập trong hội thảo chèo  mà tôi cho rằng. Chèo là một thể loại đặc trưng, tiêu biểu cho tài hoa trong nghệ thuật của cha ông ta nhất là phần âm nhạc của các làn điệu làm nên sự duyên dáng, thâm trầm và hài hước đặc trưng của chèo. Nhưng thời đại nào cũng có kịch nói chung và chèo nói riêng của thời đại đó .

          Cũng từ tư duy đó nên tôi cho rằng. Để sân khấu Hà Nội được coi và làm như một sản phẩm công nghiệp văn hoá thì điều cần đầu tiên và quan trọng nhất là tôn trọng chất văn hoá trong sân khấu. Ở đấy cần những con người có tâm huyết và am hiểu sân khấu để chỉ đạo ,quản lý và làm sân khấu. Trong khi các loại hình nghệ thuât khác đã áp dụng nhiều phương tiện khoa học, kĩ thuật để tạo ra những tác phẩm phù hợp với thị hiếu, trình độ thì lẽ nào sân khấu không áp dụng. Điều nữa, công nghiệp văn hoá phải khác về chất thủ công văn hoá. Chúng ta không thể bỏ qua những đặc trưng của các thể loại sân khấu để đưa vào một giọ như rất nhiều địa phương đã làm. Rất may Hà Nội ta là một trong những địa phương không thực hiện tổ chức hồn hợp này ,phải chăng đây cũng là điều kiện để chúng ta có tiên đề để thực hiện một bước tiến trong chương trình “sân khấu Hà Nội với công nghiệp văn hoá “