Sưu tầm: NSND Trần Thị Mai Hương

SÂN KHẤU THỦ ĐÔ VỚI TÍNH

TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI

                                                              

                                                                      NSƯT   TRỊNH QUANG KHANH

Thưa các vị lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp !                                                                 

 Sự nghiệp Sân khấu của đất nước ta hiện nay đang có các loại hình : Chèo,tuồng, cải lương, xiếc, múa rối, kịch dân ca, kịch câm và nhạc kịch. Trong 8 loại hình thí sân khấu Thủ đô hiện nay có tới 7 loại hình, điều đó nói lên sự phong phú và đa dạng của sân khấu Thủ đô.                   

Chúng ta đều biết sân khấu luôn mang trong mình hai thuộc tính cơ bản đó là tính truyền thống và tính hiện đại. Trong tiến trình phát triển của nghệ thuật sân khấu Việt Nam nói chung và nghệ thuật sân khấu Thủ đô nói riêng hai thuộc tính đó luôn luôn tồn tại, đành rằng không phải lúc nào cũng cân bằng nhau.                                                                                   

Tính truyền thống được thể hiện trong các loại hình sân khấu truyền thống Thủ đô đó là sự tuân theo những niêm luật của từng loại hình sân sấu: Từ nghệ thuật biên kịch, nghệ thuật dàn dựng và biểu diễn đến hóa phục trang và trang trí mỹ thuật sân khấu.... Mừng là sân khấu truyền thống Thủ đô cho tới nay luôn giữ được sắc thái riêng của từng loại hính, không có chuyện “ Reo vừng ra ngô” ! Những năm qua khi đến với sân khấu Thủ đô chúng ta bắt gặp ở một vài vở diễn đang hát chèo lại hát dân ca xứ Nghệ hoặc điểm đôi câu vọng cổ mùi mẫn ... nhưng đó chỉ là sự tìm tòi thử nghiệm, tất nhiên chưa được giới hoạt động sân khấu và khán giả chấp nhận. Cùng với sự tiếp thu và giứ gìn những niêm luật tạo nên tính truyền thống cuả các loại hính sân khấu truyền thống là sự không ngừng tìm tói sáng tạo của của giới nghệ sỹ sân khấu tạo nên tính hiện đại của sân khấu truyền thống Thủ đô .   Tính truyền thống và tính hiện đại luôn song song tồn tại trong các loại hình sân khấu truyển thống Thủ đô, không bao giờ triệt tiêu nhau, tuy có thời gian tính truyền thống vượt trội hơn tính hiện đại !                                       

 Vào những năm 20 của thế kỷ XX sân khấu kịch nói được du nhập từ Tấy Âu vào Việt Nam. Mảnh đất mà sân khấu kịch nói đứng chân đầu tiên đó là Hà Nội và một vài thành phố lớn thuộc ba miền Bắc Trung Nam; Một số Ban kịch do các nghệ sỹ, tác giả sân khấu, nhà thơ, nhà văn yêu mến bộ môn kịch nói đứng ra thành lập và từ đó Kịch nói- Loại hình sân khấu hiện đại đã tồn tại và phát triển, đứng vững cùng các loại hình sân khấu truyền thống tại Thủ đô Hà Nội. Những năm đầu thế kỷ XX sân khấu kịch nói Thủ đô Hà Nội chịu ảnh hưởng chủ yếu của kịch cổ điển Pháp với những nguyên lý kịch Arĩtote, từ những năm 60 của thế kỷ XX chịu ảnh hưởng khá đậm của phương pháp sân khấu Stanílapski (KịchNga).                                                                                                                            Loại hình sân khấu hiện đại thứ hai được hình thành và phát triển tại Thủ đô Hà Nội đó là nhạc vũ kịch. Năm 1964 Nhà hát Giao hưởng hợp xướng nhạc vũ kịch Việt Nam được thành lập, tới năm 1978 đổi tên thành Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam. CÔ SAO của nhạc sỹ Đỗ Nhuận là vở nhạc kịch  đầu tiên ra mắt khán giả Thủ đô vào dầu những năm 60 của thế kỷ XX; Tiếp sau nhạc kịch “ Cô Sao” khán giả Thủ đô cũng như khán giả cả nước lần lượt được thưởng thức hơn 20 vở nhạc kịch nổi tiếng của Nhà hát Nhạc-Vũ-Kịch Việt Nam như : “ Em người phụ nữ Việt Nam”. “ Giữa miền đất lũ, “ Kẹp hạt dẻ’, “ Cây đũa thần” và Vũ kịch “ Romeo và Juliet” v.v...                                                                                            

Cùng các vở Nhạc kịch “ Hà Nội xưa và nay”, “ Tôi đọc báo sáng nay” của Nhà hát Ca-Múa –Nhạc Thăng Long; “ Trại hoa vàng”, “ Sóng” của Nhà hát Tuổi trẻ; “ Người cầm lái” của Nhà hát CAND... góp phần tạo nên Tính hiện đại về thể loại của sân khấu Thủ đô. Tính hiện đại của sân khấu Thủ đô còn được thể hiện ở khâu biên kịch. Chúng ta đều biết Chèo là loại hình sân khấu tự sự và ước lệ. Những sự kiện và sung đột kịch liên quan đến những nhân vật chính diễn ra theo thứ tự thời gian, đó là “ CẤU TRÚC THẲNG” trong nghệ thuật biên kịch. Chúng ta thấy trong quá trình sáng tạo một số tác giả sân khấu truyền thống đã áp dụng cấu trúc kịch của phương pháp Stanilápki, sự kiện kịch diễn ra không theo thứ tự thời gian và yếu tố tự sự đôi khi cũng được thay thế bằng yếu tố xung đột đột biến trong dàn dựng và biểu diễn.                                                                                            

Tính hiện đại trong sân khấu truyền thống Thủ đô còn được thể hiện ở khâu dàn dựng và biểu diễn : Ước lệ sen kẽ với tả thực; Tiết tấu vở diễn thông qua diễn suất hát múa của diễn viên diễn ra nhanh hơn. Thiết kế sân khấu hoành tráng hơn...đáp ứng nhu cầu thưởng thức của người xem, nhất là các khán giả trẻ.                                                                                 Cùng với những nét ưu việt trong tính truyền thống và tính hiện đại của sân khấu Thủ đô tôi thấy đang còn những điều trăn trở :

  • Thứ nhất là mảng đề tài hiện đại của sân khấu truyền thống còn quá vắng thiếu : Hãy nhìn chương trình kịch mục của Nhà hát Chèo Hà Nội ta thấy những vở diễn như : “Cô Son”, “ Oan khuất một thời”, “Cao Bá Quát’, “Nguyễn Công Trứ”, “ Ngọc Hân Công chúa”, “Vương nữ Mê Linh”, “ trung trinh liệt nữ”,  “ Cánh chim trắng trong đêm”, mới đây là vở “ Cánh diều làng Vũ Đại”... Tất cả đều là đề tài lịch sử, dã sử hoặc truyền thuyết dân gian. Chúng ta thấy thiếu vắng những vở diễn mang hơi thở của cuộc sống đương đại ! Đó là món nợ của tất cả chúng ta-Những người hoạt đông sân khấu đối với khán giả Thủ đô. Tôi hy vọng là thời gian tới những nhà quản lý Văn hóa-Nghệ thuật sẽ có những giải pháp tháo gỡ.
  • Sự băn khoăn thứ 2 của tôi và nhiều vị có mặt tại khán phòng hôm nay là sân khấu Thủ đô cũng như sân khấu ở nhiều địa phương khác đang thiếu vắng khán giả ! Làm thế nào để những vở diễn hay mang đậm tính truyền thống và tính hiện đại đến được với đông đảo người xem ?                                            

 Thiết nghĩ sân khấu Thủ đô thời hội nhập rất cần quan tâm giải quyết hai vấn nạn trên.