Sưu tầm: Phạm Thị Thanh Hương
THÀNH TƯU 50 NĂM SÂN KHẤU THỦ ĐÔ
Tác giả: Phạm Ngọc Dương
Năm mươi năm, một khoảng thời gian không quá dài những cũng đủ để chúng ta chứng kiến sử đổi thay của lịch sử, những dấu son chói lọi của đất nước. Ngày 30/4/1975 thống nhất đất nước, mở ra một trang sử mới. Đất nước ta bắt đầu vào giai đoạn phục hồi, giải quyết hậu quả chiến tranh, dựng xây đất nước. và hôm nay chúng ta ngồi đây để nhìn lại chặng đường 50 năm sân khấu Thủ Đô và những thành tựu đã đạt được của sân khấu nước nhà nói chung và sân khấu Thủ Đô nói riêng. Đây là một giai đoạn đầy biến động và rất quan trọng, tác động trực tiếp đến những bước thăng trầm cũng như những thành tựu của sân khấu Thủ Đô Hà Nội.
Ở bất kỳ một giai đoạn nào thì hoàn cảnh lịch sử luôn có vai trò rất quan trọng hay nói cách khác là tác động trực tiếp, là định hướng cho văn học nghệ thuật nói chung và sân khấu nói riêng. Sân khấu Thủ Đô cũng không nằm ngoài những tác động này. Hai từ sân khấu nói chung, ra đời để phục vụ đời sống con người và đất nước. Và tất nhiên sân khấu Thủ Đô cũng lấy đó làm tôn chỉ cho sự tồn tại và phát triển của từng loại hình.
Như đã nói ở trên, hoàn cảnh lịch sử tác động trực tiếp đến nền nghệ thuật sân khấu Thủ Đô. Vì vậy sân khấu ở giai đoạn nào, sẽ có hình thức, nội dung, chủ để tư tưởng để phục cho con người và xã hội ở giai đoạn đó. Từ đây những tác giả, tác phẩm, lực lượng nghệ sĩ biểu diễn và những nhà lý luận, phê bình ra đời. Chúng ta cùng đi vào chi tiết những vấn đề trên để có cái nhìn thực tế hơn vê sân khấu Thủ Đô trong 50 năm qua.
Về tác giả và Tác phẩm
Một trong những vấn đề cốt tử cho sự sống còn của sân khấu hay nói cách khác là khâu đầu tiền của sân khấu chính là đội ngũ tác giả và những tác phẩm sân khấu của họ. Từ hiện thực cuộc sống và hoàn cảnh lịch sử, Tác giả là người quan sát, phản ánh nhằm ca ngợi cuộc sống hay trong thời chiến có tác dụng khơi gợi tinh thần chiến đấu, lòng yêu nước, những tấm gương sáng về lòng quả cảm, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do của Dân Tộc. Trong thời bình thì ca ngợi những phát minh, sáng kiến dựng xây đất nước… Tất cả những tinh thần ấy, những tác giả, tác phẩm được gọi là mang tính thời đại. Trong đó, nền sân khấu Thủ Đô có thể đến một số tác giả và tác phẩm lớn như:
Lưu Quang Vũ
Xuân Trình
Doãn Hoàng Giang
Xuân Yến
Nguyễn Khắc Phục …
Có thể kể đến một số tác phẩm nổi tiếng như
Hồn Trương Ba – Da Hàng Thịt Khát vọng được sống là chính mình – sống có ý nghĩa, một tâm hồn thanh cao không thể trú ngụ trong một thân xác thô lỗ. Sự bế tắc đến tột cùng của tâm hồn thuần khiết, như muốn chui ra khỏi cái thân hình thô tục ấy. dù phải đánh đổi bằng mạng sống để được là chính mình. Đồng thời cũng phê phán sự tắc trách của những người cầm quyền. Sự bàng quan, vô trách nhiệm đã đẩy những người dân lương thiện đến hoàn cảnh éo le, cùng cực.
Hay Tôi và Chúng Ta của Tác giả: Lưu Quang Vũ: lên án cơ chế quản lý bảo thủ, ca ngợi tinh thần đổi mới. Ở trong giai đoạn này Nhà viết kịch Lưu Quang Vũ và tác phẩm của ông đã trở thành một hiện tượng của sân khấu nước nhà. Có tầm ảnh hưởng lớn không chỉ sân khấu Thủ Đô mà cả nền sân khấu cả nước.
Hà My Của Tôi: Tác giả: Doãn Hoàng Giang
Tiếng Thét giữa Hoàng Cung: Tác giả: Xuân Yến
…..
Trải qua nửa thế kỷ phát triển (1975–2025), sân khấu Thủ Đô đã ghi dấu ấn đậm nét trong đời sống nghệ thuật cả nước, trong đó đội ngũ tác giả sân khấu và kho tàng tác phẩm là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên bản sắc và sức sống bền bỉ của sân khấu Hà Nội.
Về phát triển đội ngũ nghệ sĩ biểu sân khấu:
Như chúng ta đã biết, sân khấu là một loại hình nghệ thuật sân khấu tổng hợp, trong đó tác giả và tác phẩm là khâu sáng tạo đầu tiên rồi đến các khâu sáng tạo khác. Tất cả những khâu sáng tạo đầu tiên hay tiếp theo đều được thông qua một phương tiện truyền tải đến khán giả, đó chính là diễn viên. Chính vì vậy yếu tố diễn viên là vô cùng quan trọng, như một con thuyển trở tất những tư tưởng, chủ đề, tâm tư tình cảm, những ý đồ của Tác giả, tác phẩm, Đạo diễn, nhạc sĩ, họa sĩ… muốn nói với khán giả hay một đối tượng nào đó mà họ muốn gửi gắm, tất cả đều thông qua nghệ thuật biểu diễn của Diễn viên.
Nhà viết kịch Lưu Quang Vũ từng viết: “Người họa sĩ để lại bức tranh là tác phẩm sáng tạo của mình, gửi lại ở đấy trọn vẹn cảm xúc cùng cách nhìn thế giới, cách khám phá và trình bày tạo vật của mình.
Hàng trăm, hàng ngàn năm sau người ta còn có thể chiêm ngưỡng và đồng cảm. Bức tượng đài, công trình kiến trúc sừng sững giữa không gian, tồn tại mãi với thời gian. Tác phẩm văn học càng có sức truyền bá lâu dài và rộng khắp hơn, nhất là từ khi máy in ra đời, cuốn sách có thể nằm trên giá sách của mọi người, là bằng chứng cụ thể cho lao động sáng tạo của nhà văn, cho những gì nhà văn đã yêu thương, đau khổ, tìm kiếm, dù anh ta không còn sống trên mặt đất nữa. Bản nhạc của người nhạc sĩ ghi trên giấy nhạc, nó có thể bay đi bất cứ nơi đâu, ai cũng có thể hát lên được, và nếu nhạc phẩm có giá trị thực sự, đời sống của nó có thế là vĩnh viễn. Ra đời sau, nhưng điện ảnh có những ưu thế đặc biệt. Thành quả của những người tạo ra tác phẩm được ghi lên phim nhựa, được bảo lưu, truyên bá một cách rộng rãi, toàn vẹn.Duy chỉ có sân khấu, diễn xuất của người diễn viên sân khấu là không được hưởng sự may mắn ấy. Cuộc đời của một vở diễn (vở diễn, chứ không phải kịch bản) gói gọn trong khoảng thời gian nó diễn ra. Mỗi khoảnh khắc, mỗi phút giây sân khấu trôi qua, không thể nào lưu giữ lại.
Vớ diễn chấm dứt khi tấm màn sân khấu buông xuống, nó chỉ còn sống trong tâm trí của người xem. Nhưng trí nhớ con người không phải là vĩnh viễn. Rồi những thế hệ người xem ấy cũng mất đi, cái đêm kịch tưng bừng náo nức với bao công phu khó nhọc của tài nghệ diễn xuất kia, nó ở đâu? Người ta có thể quay phim một vở diễn, nhưng sân khấu đâu phải là điện ảnh. Mỗi một đêm diễn là một lần sáng tạo mới, là liên tục những tìm tòi hưng phấn, không lặp lại của các diễn viên, là mối giao lưu đồng cảm với khán giả từng đêm diễn. Người ta không thể quay phim mọi buổi diễn. Hơn nữa, phim nhựa làm sao ghi được cái cảm giác sông động nông âm của sân khâu, thiếu đi cái cảm giác đang được đổi diện trực tiêp với những nhân vật băng xương, băng thịt, được sông trong cùng không gian,là vĩnh viễn”.
Theo nhận định của Nhà viết kịch Lưu Quang Vũ thì mọi khâu sáng tạo khác chỉ là công việc của bếp núc để phục vụ cho sự sáng tạo nghệ thuật biểu diễn của diễn viên.
Trải qua 50 năm hình thành và phát triển, sân khấu Thủ Đô đã có một đội ngũ nghệ sĩ hùng hậu từ các bậc lão thành đến các thế hệ kế tiếp, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp bảo tồn, gìn giữ và phát triển của sân khấu cả nước nói chung, Có thể kể đến những nghệ sĩ tên tuổi lớn như: NSND Trần Quốc Chiêm, NSND Nguyễn Hoàng Tuấn, NSND Bùi Thanh Trầm, NSND Lan Hương, NSND Mai Hương, NSND Hoàng Dũng, NSND Hoàng Cúc, NSND Trung Hiếu và nhiều nghệ sĩ nhân dân, ưu tú khác.
Việc đào tạo và phát triển đội ngũ nghễ sĩ kế cận là một việc làm vô cùng quan trọng, quyết định đến sinh mệnh lịch sử của sân khấu Thủ Đô cũng như sân khấu cả nước. Hàng năm, các nhà hát của Thủ Đô luôn trú trọng công tác đào tạo diễn viên trẻ, nhằm hướng tới ghánh vác sự nghiệp của nhà hát, góp phần vào sự nghiệp chung của sân khấu Thủ Đô. Các em dần dần được đóng nhiều vai quan trọng trong các vở diễn, vừa có cơ hội rèn nghề và tiến tới sẽ kế tục được các bậc tiền bối.
Ngoài môi trường truyền dạy nghề của các nhà hát ra, sân khấu Thủ Đô có nhiều cơ sở đạo tạo chính thống, là cung cấp lực lượng nghệ sĩ trẻ cho hầu hết các nhà hát của sân khấu Thủ Đô, có thể kể đến như; Trường đại học sân khấu và Điện ảnh Hà Nội, Trường cao đẳng nghệ thuật Hà Nội. Nơi thường xuyên tuyển sinh và đạo tạo các loại hình nghệ thuật. Với đội ngũ giảng viên của Trường cũng như sự cộng tác của các nghệ sĩ tên tuổi từ các nhà hát của Thủ Đô.
Những thành quả đạt được của thế hệ diên viên kế cậnlà không hề nhỏ, bằng chứng cụ thể là; các em được Đảng, Nhà nước phong danh hiệu nghệ sĩ ưu tú ở tuổi đởi còn rất trẻ. Thật là một tín hiệu đáng mừng của sân khấu Thủ Đô
Về đội ngũ phê bình, lý luận
Trong suốt 50 năm qua, đội ngũ lý luận phê bình sân khấu Thủ Đô đã góp phần quan trọng vào việc định hình diện mạo, nâng cao chất lượng và định hướng phát triển cho nghệ thuật sân khấu. Dù không phải là lực lượng “trên sân khấu”, nhưng họ là những người âm thầm soi sáng, phản biện và dẫn đường cho các sáng tạo nghệ thuật.
Từ sau năm 1975, nhiều nhà nghiên cứu, phê bình tên tuổi tại Hà Nội đã xuất hiện, tiêu biểu như: PGS.TS Phạm Duy Khuê, PGS.TS Tất Thắng, PGS.TS Trần Trí Trắc … và nhiều các nhà phê bình, lý luận sân khấu tiêu biểu khác. Các nhà lý luận, phê bình không chỉ viết lý luận, phê bình, mà còn tham gia giảng dạy, tổ chức hội thảo, các bài viết phê bình, phản biện đã kịp thời chỉ ra những mặt mạnh, yếu của từng vở diễn, góp phần giúp nghệ sĩ điều chỉnh, hoàn thiện.Nhiều cây bút phê bình đã có tác động xã hội rõ rệt, tạo nên những tranh luận tích cực, xây dựng trong giới sân khấu, góp phần tạo nền móng học thuật cho sân khấu Thủ Đô.
Vấn đề khó khăn cho đội ngũ lý luận, phê bình hiện nay là việc thiếu hụt lực lượng kế cận: Đội ngũ lý luận phê bình trẻ ngày càng ít. Nhiều trường đại học thiếu ngành,chuyên ngành chuyên sâu về sân khấu học dẫn đến tình trạng phê bình chưa theo kịp thực tiễn: Một số vở diễn mới mang tính thể nghiệm chưa được mổ xẻ thấu đáo; phê bình đôi khi chỉ mang tính thông tin, chưa phản biện học thuật sâu sắc.
Để bổ sung cho đội ngũ lý luận, phê bình sân khấu Thủ Đô, chúng ta cần tăng cường đào tạo, cần kết nối giữa các nhà hát, trường nghệ thuật và hội nghề nghiệp để bồi dưỡng các cây bút trẻ.
Tựu chung lại:Trong suốt 50 năm, sân khấu Thủ Đô không ngừng lớn mạnh, kế thừa, gìn giữ và phát triển cho sự nghiệp của sân khấu Thủ Đô và góp phần quan trọng vào sự nghiệp sân khấu của cả nước, càng khẳng định vị thế, thành tựu của sân khấu Thủ Đô Hà Nội – trung tâm văn hóa, nghệ thuật của cả nước.
