Sưu tầm: NSND Bùi Thanh Trầm
“TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
ĐƯỢC VẬN DỤNG TRONG CÁC TÁC PHẨM SÂN KHẤU”
Nhà văn GIANG PHONG
Đây là chủ đề hay mà người cầm bút chúng tôi luôn ý thức được để vận dụng vào những tác phẩm của mình.
Văn học nghệ thuật, bản chất luôn luôn và bất biến đó là sự hướng thiện. Tiêu diệt cái ác để cho cái thiện sinh sôi và phát triển. Văn học là nhân học, lấy con người là trung tâm, là đối tượng miêu tả, xử lý tình huống để hoàn thiện con người.
Dù cuộc sống khó khăn, gian khổ, đói, rách, loạn lạc, nhưng văn học nghệ thuật phải hướng cho họ niềm tin và lòng dũng cảm, biết yêu thương, đoàn kết để vượt qua.
Xa xưa, ông cha ta, cũng đã biết dùng văn học nghệ thuật để hướng con người đến với chân, thiện.
Ông cha ta đã dựng lên mẫu người đức hạnh nhân ái trong các tình huống: Tình bạn bè, tình nàng dâu mẹ chồng, tình dì ghẻ với con riêng của chồng.
Tình bạn bè đầm ấm, hết lòng vì bạn, vì nghĩa Dương Lễ đã lặng lẽ cử nàng ba Châu Long, thay chồng đi nuôi Lưu Bình ăn học thành danh. Vượt qua cơn đói khổ bát cơm hẩm với quả cà mốc meo. Tất cả đều trong suốt như pha lê. Đây là tình bạn, hay nhất, độc đáo nhất trong nền sân khấu nước nhà và sân khấu thế giới. Đó là vở “Lưu Bình Dương Lễ”.
Trong vở “Ngọc Lưu Ly” nàng dâu chịu để thần hổ khoét mắt mình để cứu mẹ chồng. Đây là hình ảnh mẫu cho người con gái đi làm dâu của mọi thời đại để dựng lên “Rể hiền, dâu thảo” là hạnh phúc của gia đình, tế bào của xã hội.
Vở “Trinh Nguyên” người mẹ kế hy sinh con riêng của mình để bảo tồn tính mạng cho con riêng của chồng. Đâu phải như những người ác độc truyền miệng xưa “Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời rì ghẻ có thương con chồng”.
Bản chất của văn học nghệ thuật là thế. Sức mạnh của văn học nghệ thuật nằm ngay trong nội hàm của nó.
Ngay từ khi Hồ Chí minh lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam và sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam. Bác ý thức sâu sắc rằng “Văn hóa dẫn đường cho quốc dân đi”. Bác rất coi trọng văn học nghệ thuật, coi đây là mặt trận mà những người nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Nên tư tưởng, đức độ Hồ Chí Minh luôn tỏa sáng cho các đồng chí, cho nhân dân, và nhất là cho các văn nghệ sĩ noi theo để phục vụ cách mạng.
Bác Hồ tiếp thu những tinh hoa và tư tưởng, đạo đức trong dân gian xưa, để phát huy phục vụ cho yêu cầu cách mạng ngày nay. Xưa thì trung với Vua: “Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung” (Vua bảo chết mà không chết là bất trung). Nay cách mạng thì khác hẳn. “Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Bác đã tiếp thu cụ thể và phát triển cho phù hợp với yêu cầu cách mạng.
Đề cương văn hóa 1943 là đề cương văn hóa của Đảng mà Bác đã phê duyệt. Với nội hàm chỉ vẻn vẹn có 6 chữ “Dân tộc – Khoa học – Đại chúng” cho đến ngày hôm nay, vẫn là kim chỉ nam cho sáng tác và hoạt động văn học nghệ thuật.
Văn nghệ sĩ luôn được Bác dạy bảo, hướng dẫn nên trong những tác phẩm kịch viết về Bác và nghe lời dạy của Người; những lời dạy của Bác là sợi chỉ đỏ, thông suốt trong các vở kịch. Đạo đức của Bác là hình tượng Bác trong nhân dân ở mỗi tác phẩm.
Vở “Đêm trăng” của tác giả Lưu Quang Hà dựa trên sự kiện Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu, tham ô, sống sa hoa, phù phiếm. Bao nhiêu đêm Bác Hồ thức trắng rồi ký lệnh tử hình Trần Dụ Châu, là 1 đảng viên, là một cán bộ cao cấp trong chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Bác không chỉ dạy đạo đức, mà Bác thực hành đạo đức để mọi người noi theo. Ký tử hình Trần Dụ Châu là diệt cái ác, để cho cái tốt, cái lành mạnh đâm chồi, nẩy lộc, phát triển.
Khi tôi viết vở “Quê nghèo đón Bác”. Bác đến cái làng ấy, nghèo lắm, không biết lấy thứ gì đãi Bác. Chị nông dân bèn lấy gạo nếp cúng Thành Hoàng làng thổi xôi, biếu Bác. Cận vệ không cho chị nông dân biếu Bác, bảo rằng Bác không lấy đĩa xôi này đâu. Đúng lúc ấy Bác nghe được, Bác hỏi chị nông dân: Thành Hoàng làng cháu là ai vậy? Chị nông dân kể, ông tên là Cố Quẩy. Sau trận đại hồng thủy, dân làng đói quá, không biết lấy gì mà ăn, thì ông Cố Quẩy nghĩ ra để đan cái dậm, đánh cua, bắt cá, cứu đói cho dân làng qua nạn hồng thủy nên làng nhớ công ơn, lập bàn thờ Thành Hoàng làng. Nghe xong chuyện, Bác nhận đĩa xôi và bảo Bí thư đem vào cho Bác thắp hương Thành Hoàng làng rồi thụ lộc. Và Bác dặn mọi người đi theo Bác “Dân là công bằng lắm, ai có công thì dân thờ, ai không có công thì dù ra Chỉ thị, ra quyết định, dân cũng không theo đâu”.
Vở này đã diễn nhiều lần trên kênh truyền hình Việt Nam. Vở này đã được Giải Nhì tập kịch “Quê nghèo đón Bác” của Ban Tuyên giáo Trung ương. Cuộc thi này có 4 vạn bài dự thi, tôi được Giải B.
Trong vở “Gặp lại cố nhân” của tôi, những ngư dân biển đều thấm nhuần lời dạy của người. Biển, đảo là nhà, là của Việt Nam.
Truyện kịch cố nhân: Chuyện kể rằng, Xưa một thanh niên Trung Quốc vào biển Việt Nam đánh cá trộm, bị bão đánh rạt trôi vào bờ. Nhân dân Việt Nam vớt lên đưa vào bờ chữa trị, cho ăn uống, thuốc men tử tế rồi trả về Trung Quốc.
3 năm sau, anh ngư dân Việt Nam, xưa đã vớt thanh niên Trung Quốc, dạt bão ra đánh cá vùng biển của mình thì bị tàu Hải Quân Trung Quốc bắt. Người bắt và hỏi cung anh ngư dân Việt lại là ân nhân cũ của tay hải quân Tàu dạt vào năm xưa. Hai người bạn gặp nhau. Tên Trung Quốc đưa giấy bút cho anh ngư dân Việt bảo viết: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc”, viết xong thì hắn thả anh về. Anh ngư dân Việt không viết và nói rằng: “Bác Hồ chúng tôi đã lấy lời Vua Trần Nhân Tông, dạy chúng tôi rằng: Một tấc đất, một tấc biển đảo của tiền nhân để lại, cũng không được đem cho, đem bán, hoặc để lọt vào tay kẻ khác thì muôn đời có tội với tổ tông”. Anh ngư dân không viết. Nó nói sẽ chặt hai tay. Anh ngư dân Việt, sẵn sàng. Nhưng rồi hắn thay đổi cách giết. Quẳng anh xuống biển, không chết đói, chết rét, cũng chết vì cá ăn thịt. Anh ngư dân chỉ xin 1 điều, nếu đẩy tôi xuống biển, thì tôi yêu cầu cố nhân đẩy tôi và cho tôi quay nhìn mặt cố nhân, đẩy ngửa. Tên Hải quân Trung Quốc ngạo mạn nói rằng được thôi, cho hưởng ân huệ như yêu cầu. Khi hắn giơ tay đẩy, thì anh ngư dân Việt túm lấy hắn, cùng ngã chìm xuống biển. Bọn lính hốt hoảng lấy súng bắn theo. Máu loang mặt biển.
Anh ngư dân không chết, mà kênh đênh, trôi được về bờ nhà.
Hai hôm sau, người ta phát hiện ra một lính hải quân tàu chết, dạt vào bờ. Đó là tên lính đã hại ngư dân Việt. Bà con ngư dân vớt lên, chôn cất tử tế để sau này nhắn người nhà của nó sang mà lấy xương cốt về.
Tinh thần nhân bản của Bác đã lắng đọng, sâu đậm trong chúng tôi, mỗi lần viết vở đều mang tư tưởng, đạo đức của Bác mà Bác đã truyền dạy,kể cả tiếp thu đức độ nhân bản của cha ông xưa “Việc nhân nghĩa, cốt ở yên dân”.
