Sưu tầm: NSND nguyễn Hoàng Tuấn

TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

VÀ NGHỆ SĨ SÁNG TẠO

                                                PGS.TS Trần Trí Trắc

 

1. Văn học nghệ thuật Việt Nam hàng ngàn năm dưới thời phong kiến mang trong mình nền tảng tinh thần xã hội Khổng giáo thôi thúc nho sinh cố công dùi mài kinh sử để ghi danh bảng vàng, đem văn chương tô điểm đạo vua, đề cao mẫu thánh nhân với nhân nghĩa, trung hiếu và phát triển vô cùng trì trệ theo nguyên tắc sáng tạo: “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí”, “hữu cảnh ngụ tình”, “thi trung hữu họa” v.v…

Năm 1883, cuối thế kỉ XIX, triều đình Huế đầu hàng thực dân Pháp, Việt Nam bước vào thời cận đại và kết thúc một giai đoạn lịch sử dài khép kín kiểu phương Đông, đưa dân tộc nhập vào quĩ đạo thế giới theo phương Tây, tạo ra thời kỳ cấu trúc lại văn hóa nghệ thuật Việt Nam. Chữ Quốc ngữ ra đời, đã trở thành phương tiện của văn nghệ sĩ, giúp cho văn học nghệ thuật đổi mới nhiều mặt, đưa nền văn học nghệ thuật phong kiến Việt Nam mang tính khu vực phát triển sang văn học nghệ thuật kiểu mới mang tính tư sản, tính thế giới, tính hiện đại. Ở đó, tính tự giác, tính duy lý, tính phân tích đã thay thế cho tính nguyên hợp, giáo huấn của truyền thống. Điều này đã được Hoài Thanh thốt lên nhận định rằng: “Ta không còn vui cái vui của ngày trước, buồn cái buồn của ngày trước, yêu ghét giận hờn nhất nhất như ngày trước”… (1).

Mặc dù văn học nghệ thuật có nhiều đổi mới, nhiều loại hình, loại thể mới (báo chí, thơ, kịch, văn, nhạc, họa, múa, lý luận…), từ vựng mới, tiếng Việt mới… làm rạn nứt hệ giá trị tư tưởng phong kiến, đưa Việt Nam chuyển hóa sang bước ngoặt đặc biệt của văn hóa tư sản, giải phóng cá nhân, đề cao cái Tôi, làm cho “con cháu cắt đứt với quá khứ văn hóa tinh thần của họ” (2). Nhưng, nói cho cùng, văn nghệ sĩ Việt Nam ở giai đoạn “đổi mới” này vẫn đầy lúng túng trong việc “tìm đường” cho mình, vẫn “Yêu là chết trong lòng một ít”, “Anh đi đường anh tôi đường tôi”, “Tình yêu đến, tình yêu đi ai biết” và “Tâm hồn treo ngược lên cành cây” mà thôi…

2. Trong quá trình ‘tìm đường’, “dấn thân”, “nhập cuộc” của mình, “từ chân trời của một người đến chân trời của muôn người” (Nguyễn Đình Thi), văn nghệ sĩ Việt Nam đã tìm thấy tư tưởng văn hóa, văn nghệ của Hồ Chí Minh. Tư tưởng văn hóa, văn nghệ Hồ Chí Minh – là một bộ phận hợp thành thống nhất biện chứng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh và đã tạo thành một con đường sáng tạo hiện đại mang ý nghĩa văn hóa, văn nghệ thời đại Hồ Chí Minh của Việt Nam. Tư tưởng văn hóa, văn nghệ của Người – là một hệ thống quan điểm trên bình diện thế giới quan triết học về tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc, về cá nhân và tập thể, về dân tộc và quốc tế, về truyền thống và hiện đại, về bản chất xã hội và đặc trưng thẩm mĩ của văn hóa nghệ thuật… theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin. Để hiểu hơn về con đường văn hóa của Người, trước hết, chúng ta cần nhận thức rõ về bản chất văn hóa, văn nghệ trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước đến khi trở thành Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh luôn luôn coi văn hóa là mục đích và là phương tiện, là nền tảng của cuộc đấu tranh trên mặt trận kinh tế hay chính trị, trong đó con người quyền con người được đặt ở vị trí trung tâm. Con người, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, đã trở thành trung tâm của văn hóa, là nguồn lực sáng tạo ra văn hóa, nên văn hóa phải quan trọng “ngang với chính trị, kinh tế, xã hội” (3) trong mối quan hệ thống nhất của kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng xã hội.

Như vậy, tư tưởng văn hóa văn nghệ của Người là từ con người, bằng con người và vì con người. Mặt khác, chúng ta cũng cần nhận thức rõ về bản chất của văn học nghệ thuật trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã tạo thành văn nghệ thời đại Hồ Chí Minh của Việt Nam. Đó là văn học nghệ thuật là một hình thái của văn hóa, con đẻ của văn hóa và “không đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế cùng chính trị (…) để góp phần nâng cao đời sống vui tươi lành mạnh của xã hội” (4), nhằm đáp ứng tốt nhất các nhu cầu nhân đạo hóa bản chất con người, giải phóng khả năng sáng tạo của con người và nâng cao các giá trị tinh thần của con người về cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Vì thế, Hồ Chí Minh coi văn hóa văn nghệ cũng là một mặt trận và văn nghệ sĩ như là chiến sĩ phải liên hệ với các chuyển động sôi sục ngoài đời sống, phải “thấu hiểu và đi sâu vào đời sống”, “bày tỏ được tinh thần anh dũng và kiên quyết của nhân dân ta, đồng chí ta”, để “miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn con người mới, cuộc sống mới” (5). Theo Hồ Chí Minh, “một tác phẩm văn chương không cứ dài mới hay. Khi nào tác phẩm ấy chỉ diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói, khi được trình bày sao cho mọi người ai cũng hiểu được và khi đọc xong, độc giả phải suy nghĩ, thì tác phẩm ấy mới xem là tác phẩm hay” (6). Thông qua những phát biểu, bài viết của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy bảng giá trị sáng tạo văn nghệ của Người là: hay – chân thật – hiện thực – hùng hồn – phong phú – thống nhất nội dung với hình thức – thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của công chúng, làm mọi người “khi chưa xem thì muốn xem, xem rồi thấy bổ ích” và phê phán các bệnh: sơ lược, bôi đen, tô hồng, viết dài, rỗng, hình thức không ăn nhập với nội dung… tốn giấy, tốn mực, mất công người xem! Theo Bác, văn nghệ sĩ cần xác định rõ ràng: viết cho ai, viết để làm gì, viết như thế nào để “phụng sự nhân dân”, “soi đường cho quốc dân đi”…

Đối với nghệ thuật dân tộc, Người đòi hỏi văn nghệ sĩ phải kế thừa, phát triển nhưng “đừng để những tiêu chuẩn này nọ của nghệ thuật phương Tây trói buộc khiến ta không thấy được hết cái hay, cái đẹp của nghệ thuật dân tộc ta”… Hơn nữa, “chèo là viên ngọc quí, phải ra sức học tập, đặc biệt là phải học các nghệ nhân để hiểu sâu và nắm vững nghề chèo. Chớ gieo vừng ra ngô!”.

Như vậy, tư tưởng cơ bản về văn nghệ của Hồ Chí Minh có thể khái quát là:

- Văn nghệ là vũ khí sắc bén, là một mặt trận và văn nghệ sĩ là chiến sĩ của nhân dân trong cuộc đấu tranh để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra.

- Văn nghệ phải phản ánh hiện thực khách quan một cách cao đẹp, để phò chính trừ tà, soi đường cho quốc dân đi, phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công nông binh, nhằm thực hiện lý tưởng nhân văn tiên tiến của xã hội.

- Văn nghệ phải có lập trường vững, tư tưởng đúng, có tính giáo dục con người, tiếp thu những tinh hoa của văn nghệ dân tộc và thế giới xưa – nay để văn nghệ luôn có hữu ích cho xã hội, luôn mang tính “thép” của văn nghệ sĩ với tinh thần “xung phong”!...

3. Từ những nguyên lý cơ bản của đạo đức Hồ Chí Minh trên, chúng ta soi chiếu vào văn nghệ sĩ và thấy đạo đức của nghệ sĩ sân khấu Thủ đô đã đạt được hoàn mĩ, thống nhất biện chứng theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Vì, họ đã là “nghệ sĩ – chiến sĩ”, đã “phò chính trừ tà”, đã “vì nhân dân quên mình” và những tác phẩm của họ đã “từ nhân dân mà ra”, đã “soi đường cho quốc dân đi” với nhiều hình tượng “con người mới Việt Nam” xuất sắc, để lại ấn tượng lâu bền trong khán giả Thủ đô… Văn nghệ sĩ Thủ đô rất tự hào về một thời vàng son của sân khấu cách mạng – sân khấu đã mang đậm nét đạo đức Hồ Chí Minh.

 Đất nước bước vào cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế, đạo đức trong nghệ sĩ sân khấu Thủ đô đã có phần nào biến động theo xu hướng “thị trường”, đề cao cái Tôi hơn cái Ta, coi trọng cái thực dụng hơn cái lý tưởng “trung với nước, hiếu với dân”, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”… Vì thế, một thời gian dài, phần lớn sáng tạo chủ yếu vào đề tài lịch sử, dã sử, huyền thoại…, mà lảng tránh đề tài đương thời, con người đương thời của cơ chế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế. Hiện tượng này đã trái với quy luật: xã hội nào thì văn nghệ như thế.

Do đó, văn nghệ Thủ đô chưa có nhiều tác phẩm “xứng đáng với dân tộc và thời đại”. Nói cách khác, một bộ phận văn nghệ sĩ, tác giả trẻ hiện nay chưa thật sự thấm nhuần và học tập được tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong sáng tác.

Hi vọng sau Hội thảo này, sức sống sáng tạo của văn nghệ sĩ Thủ đô sẽ có đạo đức Hồ Chí Minh nhiều hơn, để xứng danh làm người cầm bút có đạo đức Bác Hồ!