Sưu tầm: NSND Trần Thị Mai Hương

Vài nét về mối quan hệ giữa lý luận phê bình sân khấu

 với nghệ thuật biểu diễn

NSND. Bùi Thanh Trầm

Kính thưa các quý vị đại biểu, thưa các nghệ sĩ sân khấu Thủ đô!

Nghệ thuật biểu diễn là hoạt động nghệ thuật gắn với vai trò của người biểu diễn. Người biểu diễn đóng vai trò trung tâm, chi phối các yếu tố nghệ thuật khác. Thông qua quá trình sáng tạo, từ lúc nghiên cứu tác phẩm đến khi đặt mình trong hoàn cảnh và hành động, đó là quá trình hóa thân của người biểu diễn, dùng tâm hồn, trí tuệ, cơ thể, cảm xúc, hóa vai, nhập vai, hoạt động trong vai kịch, hay thể hiện một ca khúc, một bản nhạc… yếu tố biểu diễn của người nghệ sĩ rất quan trọng. Nghệ thuật biểu diễn gồm các loại hình nghệ thuật phong phú như: kịch hát, kịch nói, trình diễn ca múa nhạc, sân khấu, xiếc, ảo thuật… Nền nghệ thuật biểu diễn của Việt Nam đã trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài với nhiều hình thức đa dạng và chất lượng nghệ thuật ngày càng được nâng cao.

Nghệ thuật biểu diễn là một nội dung quan trọng của văn hóa tinh thần, là sự biểu hiện tinh tế nhất của văn hóa thẩm mỹ. Nó được hình thành và có sức tác động lớn đến tâm hồn, cảm xúc, trí tuệ, tình cảm của con người xã hội. Nghệ thuật biểu diễn chịu sự tác động trực tiếp của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội; đồng thời nghệ thuật biểu diễn cũng là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội, khoa học công nghệ. Nghệ thuật biểu diễn có các chức năng quan trọng: giải trí, nhận thức, thẩm mỹ, giáo dục... định hướng thẩm mỹ, giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống… cho công chúng. Những tác phẩm nghệ thuật biểu diễn sẽ chuyển tải những thông điệp, giá trị nghệ thuật tới công chúng một cách sâu sắc và hiệu quả.

Lý luận, phê bình sân khấu là một chuyên ngành khoa học mang trong mình cả lý luận lẫn phê bình. Lý luận là kết quả của quá trình mà con người đúc kết ra kinh nghiệm sáng tạo nghệ thuật sân khấu, trí thức khách quan về những quy luật vận động, phát triển của hiện thực nghệ thuật sân khấu. Phê bình là sự thẩm định, đánh giá, giải thích, phát hiện, định hướng… những giá trị sáng tạo của một tác phẩm, một tác giả, một giai đoạn, một khuynh hướng, một trào lưu cụ thể.

          Mặc dù lý luận phê bình sân khấu với nghệ thuật biểu diễn có mối quan hệ mật thiết, song hành với nhau với nhau nhưng hiện nay, có không nhiều bài viết chất lượng theo đúng yêu cầu, trách nhiệm của lý luận phê bình sân khấu. Hiểu chữ phê bình đủ nghĩa, không chỉ là “phê” cho người ta thấy cái dở, sự thiếu sót của tác phẩm mà còn phải “bình” đến nơi đến chốn sự thành công, cái hay, cái đẹp, không chỉ về nội dung tác phẩm mà cả hình thức thể hiện theo đặc thù ngôn ngữ của ngành nghệ thuật của tác phẩm được viết cũng như giá trị của tác phẩm trong bối cảnh xã hội và của sự phát triển ngành đó nếu có. Soi chiếu tiêu chí đó vào thực tế, có thể thấy vẫn còn nhiều bài viết “phê” không đến nơi đến chốn, “bình” cũng chẳng thấu đáo. Phải chăng: Chỉ có những ý kiến sau các buổi tổng duyệt là khả dĩ, còn nói chung không có phê bình sân khấu” (Có khi vì nể người phụ trách nhà hát – sợ bị chê thì vở diễn không có khản giả). Hay như NSND Lê Tiến Thọ đánh giá: công tác lý luận, phê bình dường như đang đứng ngoài cuộc. Bởi có rất ít bài viết đánh giá chất lượng các liên hoan, cuộc thi sân khấu, ý kiến nhận xét về chất lượng giải thưởng, công tác tổ chức, thành phần ban giám khảo còn hạn chế. Những người có kinh nghiệm đã lớn tuổi, trong khi lớp trẻ không sống được với nghề, khiến đội ngũ nhà phê bình sân khấu các năm qua trở nên “mỏng”. Một bộ phận có tâm lý thương cảm những đơn vị nghệ thuật, dẫn tới loạt bài viết theo tỷ lệ “bảy khen, ba góp ý”…

          Nói rằng không có những bài viết phê bình đúng nghĩa và có giá trị thì không đúng nhưng thực sự rất ít, đang khuynh hướng chung của những người có điều kiện cầm bút hiện tại. Nói rằng “có điều kiện” là để chỉ những người đang hoạt động trong các tòa soạn báo, tạp chí, trong ban văn nghệ của đài phát thanh, truyền hình trung ương và địa phương – những người có điều kiện để đăng bài hoặc lên sóng. Những người viết phê bình tự do ít được đặt viết bài nếu bản thân biên tập viên và “sếp” của cơ quan ngôn luận đó không chú ý đến tính khách quan, đa chiều của phê bình. Vì vậy, xuất hiện tình trạng viết theo kiểu “điểm báo, điểm phim, điểm vở diễn”... nghĩa là tóm tắt nội dung là chính, may ra thì có thêm vài nhận xét hay, dở và vài ba câu về đạo diễn hoặc diễn viên... Và như thế thì điểm phim, điểm sách, điểm vở diễn cũng viết na ná như nhau. Từ đó, đã xuất hiện cụm từ “phê bình kiểu báo chí” để chỉ kiểu viết hời hợt này.

          Ở báo chí, bài của cộng tác viên được xử lý có nhiều lúc tùy tiện. Ở những tạp chí chuyên ngành và người phụ trách có xu hướng theo học thuật thì khi thay đổi hoặc sửa chữa câu chữ, biên tập viên trao đổi với tác giả. Đó là cách làm đúng luật và thể hiện sự tôn trọng người viết. Nhưng ở một số tờ báo không chuyên ngành thì sự sửa chữa, cắt cúp rất chủ quan, nhiều khi cắt cơ học, họa sĩ cũng có thể cắt do “thiếu chỗ” trên tờ báo.  Phê bình “kiểu báo chí” này có thể có những bài trung tính, khách quan, mặc dù hời hợt. Nhưng không ít trường hợp có những bài viết theo kiểu quảng cáo tiếp thị, khen vống lên vì mối quan hệ cá nhân của người viết với người có tác phẩm hoặc có khi theo cách áp đặt chủ quan của người viết phê bình. Vậy còn đâu tính khách quan của ngòi bút phê bình?     

Một trong những điều thiếu hụt trong phê bình văn học, nghệ thuật nói chung, phê bình sân khấu ở nước ta nói riêng là thiếu sinh hoạt phản biện đầy đủ của người viết. Ví dụ: Một vài bộ phim điện ảnh miêu tả không đúng hiện thực xã hội của thời quá khứ được khen hết lời, thậm chí đoạt những giải thưởng cao mà hiếm có bài vạch ra sự yếu kém, sai lệch. Những tác phẩm kiểu này qua thời gian sẽ làm cho những người không biết về hiện thực xã hội mà bộ phim miêu tả hiểu sai về lịch sử…. Khi những tác phẩm kiểu này được xuất bản, trên công luận hiếm có sự trao đổi, sự đối thoại đến nơi đến chốn của các luồng ý kiến trái chiều qua các bài viết để công chúng biết được những tác phẩm ấy hay ở chỗ nào, dở như thế nào. Những cuộc tranh luận có tính trao đổi hoặc phản biện sẽ tạo nên sự hấp dẫn của phê bình văn nghệ, cuốn hút những người cầm bút, những người có thể theo nghề và độc giả. Những tác phẩm được coi là phản lại đường lối của Đảng hoặc phản lại quyền lợi dân tộc càng phải được mổ xẻ, tranh luận cho đầy đủ để công chúng biết cái xấu, cái chưa được của tác phẩm chứ không nên dập tắt một chiều và ngay lập tức (nhất là sách và phim bị cấm phát hành). Càng công khai, càng thẳng thắn thì càng có lợi cho công chúng và giới chuyên môn.

Ngoài ra, thực trạng người viết phê bình văn học, nghệ thuật còn thiếu tinh thần phản biện đầy đủ là nguyên nhân của sự “yếu và thiếu”, sự trầm lắng của phê bình văn học, nghệ thuật ở nước ta hiện nay. Bởi nếu thiếu tinh thần phản biện thì không thể “phê” cho hợp tình hợp lý, “bình” cho đến nơi đến chốn; không thể chỉ ra cái hay, cái dở, cái đúng, cái sai của tác phẩm một cách thuyết phục. Và như thế thì không thể làm tròn trách nhiệm định hướng sáng tác cho văn nghệ sĩ, định hướng thẩm mĩ cho công chúng tiếp nhận tác phẩm văn học, nghệ thuật.    

Chế độ nhuận bút dành cho phê bình văn học, nghệ thuật cũng là một trong những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến công tác phê bình văn học, nghệ thuật hiện nay. Học phê bình văn học, nghệ thuật đã khó, đi xin việc cũng không dễ dàng (nhiều người học lý luận-phê bình văn học, nghệ thuật phải làm trái nghề), đồng lương có lẽ cũng chẳng nhiều nhặn gì nếu so với các công việc khác trong xã hội. Vì vậy, chỉ những ai thực sự yêu nghề mới theo nghề. Mà những yếu tố kích thích lòng yêu nghề lại cần được nghiêm túc xem xét và đánh giá lại. Một bài viết phê bình, nghiên cứu văn học, nghệ thuật, nếu đặt trong mối tương quan giữa sự đầu tư trí tuệ và cảm xúc, thời gian hoàn thành bài viết với số tiền thù lao (nhuận bút) ít ỏi đến mức thê thảm (những người làm nghề khác rất ngạc nhiên khi biết mức thù lao cho những bài viết nghiêm túc và là kết quả của sự đầu tư trí tuệ cùng với cảm xúc ấy) thì rất dễ lý giải vì sao lĩnh vực phê bình không hấp dẫn người cầm bút.

Từ những nhận định trên, tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp sau:

Một là, về quản lý, các cán bộ quản lý phải thấy rõ tầm quan trọng của lý luận phê bình văn học, nghệ thuật có giá trị, có chất lượng để có khả năng tổ chức hoạt động cuốn hút công chúng, dẫn dắt để họ phát huy năng lực và có tác động tới sáng tác. Đó là cách triển khai nhiệm vụ chính trị có hiệu quả nhất.

Hai là, về đào tạo, cần tăng cường chất lượng đào tạo sinh viên, nhất là sinh viên các chuyên ngành nghệ thuật. Hiện nay, các trường nghệ thuật rất ít thí sinh đăng ký dự tuyển vào các lớp phê bình. Thậm chí, có những khóa, hễ thí sinh nào đăng ký dự tuyển là được học mà vẫn không đủ chỉ tiêu đào tạo. Riêng Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh những năm gần đây đã không mở được chuyên ngành lý luận-phê bình vì không có thí sinh đăng ký dự tuyển. Bên cạnh đó, đối với các phóng viên, biên tập viên đang công tác thì nên có quy chế đào tạo, nâng cao trình độ tại chỗ bằng cách tạo điều kiện cho đi học thêm văn bằng 2 hoặc các lớp ngắn hạn chuyên ngành liên quan đến lĩnh vực mà họ phụ trách.

Ba là, cần thay đổi chế độ nhuận bút quá “bèo bọt” cho các bài phê bình, nghiên cứu văn học, nghệ thuật hiện nay. Thực ra, những người tâm huyết với nghề sẽ không chỉ vì sự tương quan giữa số tiền nhuận bút với sự đầu tư trí tuệ, cảm xúc và công sức mà nản chí. Họ viết vì nhiều lẽ - đam mê, trách nhiệm - và rõ ràng không ai trong số họ chỉ sống bằng nhuận bút nhưng họ vẫn cảm thấy tủi thân vì lao động trí óc không được coi trọng. Như vậy, chế độ nhuận bút cũng là một trong những yếu tố khích lệ người viết lý luận phê bình.