Sưu tầm: Trần Thị Mai Hương

Vai trò nghệ sĩ biểu diễn trên sân khấu

                                                                               NSND.Trần Quốc Chiêm

Với cương vị là Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội, tôi rất hoan nghênh sáng kiến của Ban Chấp hành Hội Sân khấu Hà Nội đã tổ chức hội thảo: “Vai trò nghệ sĩ biểu diễn trên sân khấu”. Đây là cuộc Hội thảo cần thiết đối với sự phát triển của Nghệ thuật Sân khấu nói riêng và của Văn học nghệ thuật Thủ đô nói chung nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2021-2026 đã đề ra.

Nói đến nghệ thuật biểu diễn sân khấu là nói tới sự tài tình, tinh tế trong diễn xuất của diễn viên. Đây là lực lượng chính làm nên linh hồn của vở diễn. Song nhìn vào diện mạo sân khấu nước nhà, không khỏi ngậm ngùi khi nhận ra sự thiếu hụt trầm trọng về đội ngũ diễn viên kế cận.

Trong khi truyền hình, điện ảnh đang “nở rộ” những gương mặt trẻ thì sân khấu lại phải đối mặt với bài toán khủng hoảng diễn viên trẻ, nhất là diễn viên tài năng đủ sức để gìn giữ “ngón nghề cha ông”. Theo thống kê của Cục Nghệ thuật biểu diễn, số diễn viên trong độ tuổi từ 20 đến 25 ở các đơn vị sân khấu cả nước chỉ chiếm tỷ lệ 5,6%, và từ 25 đến 30 tuổi cũng chỉ chiếm 42,3%. Ở Nhà hát Tuồng Việt Nam, phần lớn diễn viên đều đã ngoài 40, 50 tuổi. Trong khi đó, Nhà hát Cải lương Việt Nam có khoảng hơn 30 diễn viên được coi là trẻ thì lượng đào kép chỉ chiếm khoảng 20%. Bất cập dễ nhận thấy là tồn tại tương đối nhiều những diễn viên đã hết tuổi làm nghề nhưng chưa đến tuổi về hưu. Cho nên xét về chỉ tiêu, các đơn vị cơ bản vẫn đủ người, song thực tế khan hiếm đến mức báo động nguồn nhân lực sung sức. Ngay với các cuộc thi tìm kiếm tài năng sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc, Nhà nước cũng buộc phải đưa ra quy định về độ tuổi thí sinh tham dự là dưới 33, là lứa tuổi mà ở loại hình nghệ thuật nào cũng không còn được coi là trẻ.

Thực tế, soi chiếu vào các đơn vị kịch hát dân tộc nước ta hiện nay sẽ thấy lực lượng diễn viên phân hóa thành hai nhóm. Nhóm các nghệ sĩ có thâm niên, tài năng thì đã phai nhạt về nhan sắc, xuống sức về giọng ca. Trong khi đó, đội ngũ diễn viên trẻ, thường chiếm số lượng ít, lại không đủ năng lực để thể hiện tròn vai các hình tượng sân khấu. Hầu hết các đơn vị khi nhận diễn viên mới phải mất thời gian đào tạo lại và diễn viên cũng vì thế mất đi vài năm thanh sắc. Ngay bản thân tôi ngày trước bắt đầu nhận vai chính đầu tiên năm 17 tuổi, độ tuổi “sung” nhất về thanh sắc, cảm xúc. Nhưng bây giờ, diễn viên tốt nghiệp ra trường đã 22, 23 tuổi, nhận về nhà hát phải tập sự vài năm, đến khi được vào vai đào chính, kép chính thì cũng bớt đi nhiều sức hấp dẫn. Lực lượng biểu diễn vừa thiếu, vừa yếu cho nên nhiều vở phải chấp nhận tình trạng “cưa sừng làm nghé”, để các diễn viên trên dưới 40 tuổi đảm nhận vai diễn… tuổi 20. Cũng bởi vậy mà con thuyền sân khấu nước nhà càng tròng trành hơn trên con đường chinh phục khán giả.

Thực trạng khó khăn của các đơn vị và nghệ sĩ nghệ thuật truyền thống hiện nay là nằm trong khó khăn chung của đất nước do bị ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh. Tuy nhiên, xét về lâu dài, nếu như ở một số lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, việc bổ sung nguồn nhân lực có thể dễ dàng hơn, thì trong sân khấu truyền thống lại khó khăn hơn rất nhiều.

Tại các đơn vị hàng đầu trong sân khấu truyền thống như Nhà hát Tuồng Việt Nam, Nhà hát Chèo Việt Nam, Nhà hát Cải lương Việt Nam..., nhiều năm qua luôn không tuyển đủ chỉ tiêu số lượng diễn viên. Đó là chưa kể trong thời gian này, nhiều người đã bỏ dở giữa chừng, vì tự thấy không đủ khả năng, hoặc sau khi “suy đi tính lại” đã xin rút để lựa chọn con đường khác.

Đối với các trường nghệ thuật đào tạo nguồn nhân lực cho sân khấu truyền thống cũng rất khó tuyển sinh. Đơn cử như Trường đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội, nhiều năm qua không có khóa đào tạo diễn viên tuồng vì không có học viên. Các bộ môn như diễn viên cải lương, chèo, múa rối thì khá phập phù, có năm đủ chỉ tiêu tuyển sinh, có năm không. Việc đào tạo nhạc công cho kịch hát dân tộc cũng buộc phải ngừng bởi không có người học. Các môn biểu diễn nhạc cụ như đàn tì bà, sáo, đàn bầu tại Trường Cao đẳng nghệ thuật Hà Nội hiện cũng không có người đăng ký theo học.

Dễ nhận thấy các tài năng sân khấu, nhất là của kịch hát truyền thống đang bị “chảy máu” sang ngành nghề khác, ngay cả khi được Nhà nước giảm tới 70% học phí cùng nhiều ưu đãi. Nhiều con em nghệ sĩ là con nhà nòi, có sẵn tố chất và giọng hát hay nhưng không theo nghề bố mẹ. Ngược lại, theo học chuyên ngành điện ảnh, truyền hình phải đóng toàn bộ học phí, làm bài tập tốn kém nhưng thí sinh thi vào lại đông. Ngày trước, một gia đình nghệ sĩ thường có nhiều thế hệ theo nghiệp Tổ kiểu cha truyền con nối, dạy các em khi đó rất nhàn vì đã trưởng thành trong môi trường nghệ thuật từ nhỏ, vừa nói đã hiểu ngay ý thầy. Nhưng nay, những trường hợp này vô cùng hiếm. Đây là điều đáng tiếc của sân khấu nước nhà.

Với tình trạng khó khăn của sân khấu truyền thống những năm qua, nhiều đơn vị không thể có nguồn thu để trả lương tối thiểu cho nghệ sĩ hợp đồng. Từ đây dẫn đến hiện tượng nghệ sĩ trẻ, dù được học hành đào tạo bài bản về sân khấu truyền thống, vẫn từ bỏ sở trường để đến với hoạt động giải trí thời thượng, vừa nhanh nổi tiếng vừa dễ có thu nhập cao, như đóng phim truyền hình, làm YouTube, kinh doanh trên mạng, tham gia các gameshow... Không ít nghệ sĩ dù đã có thời gian gắn bó với nghề, rất tâm huyết muốn bám trụ sân khấu truyền thống nhưng vì miếng cơm manh áo vẫn phải dứt áo ra đi. Việc “chảy máu” nguồn nhân lực trong sân khấu truyền thống vốn đã là một thực tế đáng lo ngại, giờ thêm “cú bồi” của dịch bệnh khiến các nhà quản lý tâm huyết dù cố gắng xoay xở nhưng vẫn chưa có hướng giải quyết.

Hiện, các đơn vị sân khấu trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đều đang trong lộ trình tự chủ kinh tế. Mà khi đã tự chủ, một trong các yếu tố để nâng cao sức cạnh tranh chính là thu hút nhân tài. Nhưng nhân tài khan hiếm cho nên các nhà hát vừa phải tuyển, vừa phải “nịnh”, tạo mọi điều kiện thuận lợi để diễn viên có thể chạy sô tăng thêm thu nhập. Song cũng bởi thế mà đôi lúc các đơn vị lâm vào cảnh dở khóc dở cười. Nhiều khi thiếu kinh phí, các đơn vị có thể huy động các mối quan hệ để có nguồn dựng vở, nhưng thiếu diễn viên thì chịu không thể diễn cho ra trò. Có vở đã chọn được diễn viên ưng ý, nhưng khi có kỳ cuộc đột xuất cần diễn lại để phục vụ thì diễn viên ấy lại bận chạy sô bên ngoài, không thể sắp xếp thời gian tham gia. Đạo diễn lại phải thay diễn viên mới mà thời gian gấp rút, vì thế không thể bảo đảm chất lượng.

Khó lòng kể hết những thách thức mà sân khấu đang phải đối mặt từ việc thiếu diễn viên trẻ. Song nhìn nhận thực trạng này không phải để đổ lỗi hay trông chờ sự giúp đỡ mà là để sân khấu tìm cách tự giải cứu. Thực tế gần đây, một số nhà hát đã chủ động thay đổi cách thức quản lý nhằm tăng cường sự gắn bó của diễn viên với đơn vị. Thời gian qua, để tăng cường nguồn thu cho đơn vị và cũng để cải thiện thu nhập cho diễn viên, nghệ sĩ, nhiều nhà hát đã phát huy được sự năng động trong việc huy động nguồn kinh phí xã hội hóa. Những vở diễn như Mai Hắc Đế, Vua Phật (Nhà hát Cải lương Việt Nam), Bệnh sĩ (Nhà hát Kịch Việt Nam) … được dàn dựng thành công từ nguồn tài trợ là những tín hiệu vui cho thấy sân khấu đã bắt đầu có bứt phá để không bị bỏ lại phía sau trong dòng chảy hội nhập.

Thực tế, cơ chế và những ưu đãi của Nhà nước đối với các nghệ sĩ theo nghệ thuật truyền thống đã có từ nhiều năm nay. Đặc biệt những năm gần đây, để tạo điều kiện cho nghệ thuật truyền thống tồn tại và phát triển, các sở, ban, ngành cùng chung tay xây dựng mô hình liên kết du lịch với nghệ thuật được áp dụng rất hiệu quả ở nhiều nơi. Những vở diễn sân khấu chất lượng đã được thường xuyên tổ chức biểu diễn, giới thiệu đến khán giả trong nước và quốc tế. 

Như vậy trong thời đại mở cửa, nghệ thuật truyền thống cũng như các loại hình nghệ thuật khác phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, thách thức, nhưng nếu như chỉ đổ tại cơ chế, ỷ lại những ưu đãi của Nhà nước mà các nghệ sĩ không tâm huyết, nỗ lực vươn lên thì chắc chắn nghệ thuật truyền thống, những “viên ngọc quý” của dân tộc sẽ không thể tỏa sáng được. 

Trong cơ chế thị trường, dù phải cạnh tranh khốc liệt, nhưng nếu như cùng với các chính sách ưu đãi của Nhà nước, các nghệ sĩ phát huy tính năng động, sáng tạo, nỗ lực tìm tòi, tâm huyết xây dựng những tác phẩm thực sự chất lượng. Những tác phẩm đó không chỉ là “bảo bối” mang lại thu nhập, thương hiệu, mà dường như còn tạo thêm nguồn cảm hứng sáng tạo và sức sống cho nghệ sĩ, cũng như đơn vị nghệ thuật, thì chắc chắn, nghệ thuật truyền thống sẽ có những khởi sắc, thực sự là những “viên ngọc quý”, là niềm tự hào của dân tộc./.