Sưu tầm: NSND Phạm Thị Thanh Hương
Thử đi tìm giải pháp để kéo kịch ra khỏi bi kịch
Nguyễn Hiếu
Trong một lần trò chuyện với một số kịch tác gia có danh, tôi bất chợt được nghe một định nghĩa vui nhưng lại ẩn chứa nỗi buồn lớn của giới kịch hiện nay. Định nghĩa đó là “nói xa xôi làm gì, bi kịch là kịch viết ra không ai dựng, kịch dựng rồi nhưng không bán được vé”.
Vì sao sân khấu kịch của ta lại lâm vào tình trạng bi kịch đáng thương như vậy ? Vì sao khán giả hiện nay lại không quan tâm đến kịch, không chịu bỏ tiền, bỏ thời gian đến với sân khấu ?
Khi cắt nghĩa tình trạng buồn của làng sân khấu hiện nay các nhà chuyên môn thường nói đến sự xuất hiện của nhiều loại hình văn hoá, văn nghệ giải trí. Sự bùng nổ của công nghệ truyền hình đã đưa sân khấu, sân cỏ, phim ảnh đến tận giường ngủ mỗi cá nhân. Rồi thói quen xem kịch bằng giấy mời vv và vv đã làm mất thói quen đến rạp mua vé xem kịch cùa người dân hiện nay. Tôi không hề phủ nhận nguyên nhân vừa nêu. Nhưng theo tôi không phải nguyên nhân chủ yếu.
Vậy sự chán kịch của dân ta bắt đầu từ đâu ? Sự dựng vở để rồi cất kho có nguồn gốc nào ?
Để trả lời câu hỏi này tôi quay lại những nguyên lý cơ bản về thể loại kịch trong mối tương quan với đời sống con người.
Kịch là một loại hình sân khấu ra đời từ thủa nhân loại biết làm nghệ thuật. Ngay từ thủa sơ khai sân khấu đã được gọi bằng mỹ từ cao quý là thánh đường nghệ thuật. Càng về sau với tố chất và đặc trưng của mình, kiệt tác của các tác gia vĩ đại thánh đường này từng đánh dấu hoặc mở ra các giai đoạn lịch sử của nhân loại. Kịch của Ét Sin, Xô phốc thời Cổ Hy La phản ảnh bi kịch của con người cổ đại đang vươn dần đến nền văn minh. Kịch Xếcxpia đánh dấu giai đoạn tiền tư bản. Kịch của V.Huy gô báo hiệu sự bùng nổ của cách mạng tư sản Pháp 1789, kịch của Gớt và Sin lơ mở đầu cho thời kì “bão táp và xung kích”( Sturm und Drang) cuả nứơc Đức đang phá vỡ nền quân chủ lập hiến vv và vv…Nói như vậy để hiểu rằng kịch bản hấp dẫn được người xem là kịch bản phản ảnh những mâu thuẫn lớn, trung tâm của xã hội, những gì người xem đang quan tâm, lưu ý và cũng từ đó chuyển tới người xem những thông điệp về xã hội, đạo đức, lẽ sống…Đồng thời phê phán mạnh mẽ những trở lực ngăn cản sự phát triển của xã hội.
Đối chiếu với những phẩm chất cao quý và rất đặc trưng luôn gắn liền của sân khấu như vậy để thấy sân khấu của ta hiện nay đã tự mình từ bỏ những thiên chức cơ bản của thể loại này. Nói như NSƯT, Đạo diễn Lê Chức là các kịch bản, vở diễn của ta trong vòng trên dưới 20 năm trở lại đây chỉ phản ảnh những mâu thuẫn vụn vặt, nhỏ bé mà bỏ qua, hoặc không động chạm đến những mâu thuẫn lớn, vấn đề trong đại của xã hội. Kịch của Vũ thủa sinh thời được đón nhận gắn liền với giai đoạn nhà nứơc ta bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới, cởi trói cho văn nghệ. Những kịch bản hay nhất của Vũ giai đoạn đó phản ảnh, nói lên những điều người xem quan tâm. Những điều này đến nay vẫn còn tính thời sự . Còn hiện nay không thể phủ nhận không ít các tác giả với bản lĩnh của mình cũng luôn luôn cố gắng để phản ảnh những vấn đề lớn của xã hội, những điều người xem quan tâm để cho ra những kịch bản đủ sức kéo khán giả đến với sân khấu. Đáng tiếc với cách chọn vở “sợ bóng sợ gió”, muốn an toàn cho kịch mục, cho đơn vị và cho cá nhân các vị lãnh đạo của đòan, của nhà hát nên hầu hết các nhà hát, các đoàn kịch đều thẳng thừng gạt bỏ những kịch bản bị gán cho hai chữ “nhạy cảm”.
Trường hợp kịch bản “chuyện như thế thì cần phải nói” của Nguyễn Hiếu do Lộng Chương đạo diễn cho Đoàn kịch Công nghiệp Hà Nội năm 1976. Viết hưởng ứng NQ về “ba xây ba chống”. Kịch bản “con tàu ma “ của Nguyễn Hiếu 2012. Viết bốn thể loại:TT, TN ,kb sk, kb phim.TN, tt được dùng. Kịch bản “thầy Chu”viết 2009 đến 2013 mới được dựng)
Với những kịch bản nhàn nhạt phản ánh những vấn đề bên lề trung tâm, vòng xoáy của cuộc sống tức là ngoài sự chú ý, quan tâm của người xem thì làm sao đủ sức bắt người xem bỏ tiền mua vé vào rạp đêm đêm.
Trong một bài phê bình 2 bộ phim “ma làng sau mười năm” và “bão qua làng”, tôi đã viết, sở dĩ khán giả truyền hình không thích thú hai bộ phim này như họ từng mong ngóng “bí thư tỉnh uỷ”,”chủ tịch tỉnh”…Vì những vấn đề sôi động nhất của nông thôn hiện nay là nông dân mất đất, thất nghiệp trên mảnh đất của mình, tình làng nghĩa xóm bị phá vỡ…thì không phản ảnh, lại phản ảnh những mâu thuẫn quá nhỏ như chọn trưởng thôn… thì làm sao hấp dẫn được người xem).
Sân khấu của ta hiện nay cũng lâm vào tình trạng tương tự.
Nội dung các vở kịch né tránh đề tài được người xem quan tâm là nguyên nhân lớn đã khiến người xem quay lưng với sân khấu. Các đoàn kịch quốc doanh sở dĩ đến nay còn tồn tại một cách lay lắt chính bởi nguồn ngân sách dựng cho vở vẫn còn. Và các nghệ sĩ vẫn sống cầm chừng với đồng lương công chức. Giả thử vào một ngày xấu trời nào đó nhà nước cắt hoàn toàn hai nguồn tài chính này thì liệu cở sở kịch chuyên dựng các kịch bản nhàn nhạt, lành hiền này còn không ?
Còn nguyên nhân thứ hai thuộc về nghệ thuật.
Chúng ta đang sống nửa cuối thập niên thứ hai của thế kỉ 21, khi trình độ khoa học kĩ thuật của con người đã tiến rất xa. Chính vì vậy mọi loại hình nghệ thuật cũng được hỗ trợ rất nhiều sự tiến bộ này để tìm ra những phương pháp thể hiện mới đủ sức cạnh tranh với các loại hình nghệ thụât khác. Trong nghệ thuật, một trong những tố chất của các nhà sáng tác là luôn luôn tìm con đường sáng tạo riêng, đặc trưng cho mình. Vì vậy ngoài sự tuân thủ những nguyên tắc kinh điển làm nên tính chất của mỗi thể loại thì việc cách tân trong sáng tác của các nhà văn, các nhà viết kịch là việc làm tất yếu để tạo nên phong cách riêng, đồng thời thỏa mãn thị hiếu thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của người xem. V. Huy Gô bằng những kiệt tác kịch của mình như Héc na ni, Crôm Oen…từng dầy công phá vỡ luật tam nhất trong kịch( luật này từng là hình bóng thể chế quân chủ lập hiến Pháp) tồn tại hàng thế kỉ mà Coóc nêi và Ra Sin là hai đại diện kiệt xuất. Gớt, Sin Le đưa yếu tố và kết cấu lãng mạn vào kịch là hình bóng cho việc tìm ra hướng đi cho phong trào ”bão táp và xung kích”…Gần đây nhất vào đầu thập niên 70 của thế kỉ 20 nhà viết kịch trẻ Văm Pi lốp đã tạo ra một phương pháp viết kịch dựa trên chất trữ tình và ngẫu nhiên đã viết nên hàng loạt kiệt tác làm lung lay hệ thống Xtanilápski…Còn ở ta chất thơ và sự suy gẫm trong những kịch bản của Nguyễn Đình Thi đã phá vỡ ít nhiều tư duy kết cấu hành động trong kịch làm đau đầu bao đạo diễn. Kịch bản của ông chỉ bừng sáng lên trong cách đạo diễn tài ba của NSND Nguyễn Đình Nghi. Như trên tôi đã nói trình độ khoa học kĩ thuật của nhân loại giờ đây đã tiến quá xa, các nhà viết kịch trong xu thế đổi mới cũng đi tìm nhiều phương pháp biểu hiện mới….Nhưng đáng buồn thay không ít các nhà hát, các đoàn kịch giờ đây vẫn lấy tiêu chuẩn nghệ thuật của Xtaní, phải có hành động kịch rõ ràng cùng với chủ đề không nhậy cảm để chọn kịch bản….Với lối chọn kịch bản cổ lỗ, trì trệ cả về nghệ thuật biểu hiện với đề tài hiền lành như vậy trách chi người xem nhất là người xem trẻ từ chối sân khấu. Đó là chưa kể ở cơ sở này cơ sở khác trong làng kịch còn có những đạo diễn ruột. Và chính các đạo diễn uy quyền này với phong cách của mình thêm một lầnkhiến cho các kịch bản được chọn hạn hẹp về phong cách, tạo ra hiện tượng buồn như một giám đốc của một nhà hát ở Hà Nội đã thốt lên chua chát”đây là thời buồi đạo diễn cưỡng hiếp tác giả”
( kể lại trường hợp Đạo diễn Lộng Chương đạo diễn kịch bản “chuyện như thế thì cần phải nói năm 1976 của Nguyễn Hiếu)
Điều cuối cùng, tôi muốn nói đến yếu tố thương mại và thông tin. Dù nghệ thuật nói chung và sân khấu nói riêng cao đạo đến đâu thì cũng không thể thoát khỏi hai đặc trưng này. Không phải ngẫu nhiên phí qủang cáo ở các nứơc tiên tiến chiếm từ 30-35, thậm chí có sản phẩm lên đến 40% giá thành sản phẩm, trong lĩnh vực nghệ thuật tỉ lệ này còn cao hơn nhiều. Còn ở ta sau khi các vở kịch dàn dựng xong theo lệ thường mời mấy nhà báo (đa phần là không hiểu gì về kịch) đến xem rồi viết bài giới thiệu theo giọng của tác giả, giám đốc nhà hát và đạo diễn. Đơn vị có vở mới coi đó là xong. Tôi nhớ, cách đây ba, bốn chục năm ở trang cuối nhiều tờ báo đều có mục giới thiệu phim và kịch chiếu ở các rạp mỗi tối Nay người yêu kịch muốn xem cũng không biết xem ở đâu. Các nhà hát, đoàn kịch đã từ lâu thụ động, ngủ yên vì tiền dựng vở được rót từ ngân sách. mảng phê bình kịch – cũng là một cách quảng cáo- quá yếu vì không được coi trọng, vì không có nhà phê bình nào đúng nghĩa ngoài mấy bài phê bình sáo rỗng “vở kịch đã đụng vào rung cảm trái tim”…
Thiếu năng động trong quảng cáo tức là tự bịt thông tin về sản phẩm của mình, thiếu sự mổ xẻ đánh giá tác phẩm, tác giả đạo điễn…Đã giết chết sự sáng tạo, đổimới của nhà hát, tác giả, lầm mất đi sự hướng dẫn, thu hút khán giả đến với tác phẩm của mình. Mỗi kì có kỉ niệm nọ kia, lại lấy tiền ngân sách dựng vài kịch mục kiểu pa nô hoành tráng với nghệ thuật viết cũ mèm …Với cách làm hành chính, bao cấp, làm cho xong chuyện như vậy trách chi không hấp dẫn được người xem đang một thông minh, am hiểu và kịch làm sao đủ sức cạnh tranh trong guồng quay của đủ mọi phương tiện giải trí cách tân và đa dạng hiện nay.
Những người làm nghề sân khấu chúng ta ngồi đây có vinh dự và may mắn ở giữa một Hà Nội- trung tâm của nước Việt nam đang phát triển và hoà nhập- một địa phương đã từng có nền văn hóa vào loại bậc nhất không chỉ của đất nước mà của khu vực. Đáng buồn thời gian qua chúng ta thiếu hẳn sự bứt phá, đổi mới trong lĩnh vực sân khấu nên chúng ta không sao thoát khỏi tấm lưới bi kịch cho ngành kịch. Tôi nhớ trong lần ông Chung – Chủ tịch thành phố có nói với VNS Hà Nội rằng “sẵn sàng đặt hàng VNS để Hà Nội ta có những tác phẩm xứng với tầm vóc của Thủ đô.”Đáng tiếc chúng ta cũng không chớp thời cơ này để có những cuộc kí kết chính thức với ngài thị trưởng có tầm nhìn đầy văn hóa kia, tạo ra một dịp kích thích mạnh cho những người làm nghệ thuật Hà Thành, trong đó có những người làm kịch Hà Nội.
Nền kịch của Hà Nội cho đến nay vẫn bùng nhùng trong bi kịch là vậy
Tuy vậy cũng từ cuộc hội thảo này tôi với tư cách là một nhà văn- một kịch tác gia cũng thực sự mừng vì các nhà quản lý sân khấu đã nhìn ra thảm trạng sân khấu HN, công khai để chúng ta cùng mổ xẻ thân thể ốm yếu , nhiều bệnh của làng kịch thủ đô. Nhìn ra bệnh,tìm ra thuốc chữa. Chúng ta tin kịch thủ đô Hà Nội sẽ dần dần khỏi bệnh, khỏe mạnh và cả đẹp đẽ nữa đủ sức hút đối với những người xem của thủ đô,của cả nước.
Chúc sân khấu thủ đô một ngày không xa trở thành tấm gương của làng kịch cả nước trong sự đổi mới, cách tân, phản ảnh được hiện thực đa dạng, phong phú. Đêm đêm mọi đoàn kịch, mọi nhà hát của Hà Nội sáng đèn. Mỗi đêm diễn của sân khấu Thủ đô là đêm hội của những khán giả hào hoa và thông tuệ nơi kinh kì.
