Sưu tầm: NSND Nguyễn Hoàng Tuấn
Văn học Nghệ thuật Thủ đô, sáng tác những tác phẩm hướng tới đề tài “Người Hà Nội khơi dậy vẻ đẹp thanh lịch, văn minh”.
Nhà viết kịch Giang Phong
Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhận thức của Đảng ta, về văn học nghệ thuật và nhất là vị trí, vai trò của văn học nghệ thuật đối với xây dựng nền tảng tinh thần xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam đã được thể hiện trong Nghị quyết số 05 của Bộ Chính trị khóa 6 được phát triển toàn diện và sâu sắc trong Nghị quyết dân tộc Trung ương 5, khóa 8, Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị khóa 10, và Nghị quyết Trung ương 9, khóa 11.
Các Nghị quyết này, Đảng ta xác định văn học nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt nhậy cảm và tinh tế, là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng, chân thiện mỹ của con người có tác dụng đặc biệt. Trong việc vun trồng, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm nhân cách, đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh cho các thế hệ.
Nghị quyết này soi sáng chung cho nền văn học nghệ thuật toàn quốc, đồng thời cũng khác biệt, đại biểu cho các nền văn học nghệ thuật của từng địa phương, mang đặc thù của từng vùng miền, để phát triển. Trong đó có văn học nghệ thuật Hà Nội, với đặc tính riêng có đó là con người nền nã, thanh lịch, nếp sống, cốt cách của con người Hà Nội.
Những nhà văn, nhà biên kịch, họa sỹ, nhạc sỹ v.v… Hà Nội đều ý thức được rằng văn học là nhân học. Các tác giả đều là những thư ký trung thành của thời đại, hiểu sâu sắc được rằng: Văn sỹ tái tạo. Bác Hồ đã từng dạy: Văn nghệ sỹ là chiến sỹ trên mặt trận ấy. Và tự hào hơn nữa, khi Đảng khẳng định văn hóa (trong đó có văn học nghệ thuật) dẫn đường cho quốc dân đi.
Nhiều tác giả đã thành đạt, khi phản ảnh về những sự kiện và con người Hà Nội. Những tác phẩm ấy đã đọng lại trong trái tim những bạn đọc, những khán giả nghe và xem, như các vở kịch:
- Mùa đông năm 46
- Trái tim Hà Nội
- Huyền thoại Hà Nội – nói về những chàng trai cô gái Hà Nội trong thời kỳ Hà Nội chống Mỹ.
- Mảnh vỡ Hà Nội – Nguyễn Thị Minh Thái, chuyển thể từ truyện ngắn – Hà Nội gió mùa của nhà văn Lê Minh Khuê.
Nội dung kịch mang dấu ấn đậm đặc trong lòng khán giả đó là tác giả Nguyễn Huy Tưởng, tác giả Lưu Quang Vũ. Về văn học, những tác giả viết mang đậm chất Hà Nội, nơi kinh kỳ, thanh lịch, như những tác phẩm:
- Sống mãi với Thủ đô - Nguyễn Huy Tưởng
- Bóng nước Hồ Gươm - tiểu thuyết của Chu Thiên.
- Mua lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng
- Ngõ lỗ thủy – Trung Trung Đỉnh
- Phố - Chu Lai.
Và Hà Nội đã thống kê được 8 cuốn sách hay nhất viết về Hà Nội, đó là:
1. Hà Nội 36 phố phường - Thạch Lam
2. Phố phường Hà Nội xưa – Hoàng Đạo Thúy
3. Chuyện cũ Hà Nội – Tô Hoài
4. Hà Nội lầm than – Trọng Lan.
5. Đi xuyên Hà Nội – Nguyễn Ngọc Tiến
6. Lịch sử Hà Nội – Papin – (Mạc Thu Hương dịch).
7. Hà Nội rong ruổi quanh quẩn – Băng Sơn
8. Phố - Nhà văn Chu Lai.
Riêng tôi, tôi thêm 2 cuốn nữa, hay nhất, bề thất nhất, kỳ công nhất. Đó là:
9. Tuyển văn Hà Nội 1000 năm.
10. Tuyển thơ Hà Nội 1000 năm.
Và còn bao nhiêu tác phẩm, tác giả về nhạc, về mỹ thuật, về điện ảnh kể sao cho hết. Ngay như nhà văn hóa Nguyễn Đình Thi, ông đều có tiểu thuyết, kịch bản, âm nhạc. Hai ca khúc diệt phát xít, và người Hà Nội của ông khi nào và mọi khi nào đều lừng lững trong nền âm nhạc hiện đại Việt Nam.
Sơ qua những thành tựu của những lớp người đi trước, đã khắc họa được về đề tài xây dựng con người Hà Nội, thanh lịch, văn minh.
Và các tác giả ngày hôm nay, thời đại 4.0 đã làm gì, và sẽ tiếp tục làm gì để văn học Thủ đô sáng tác những tác phẩm hướng tới những đề tài “Người Hà Nội, khơi dậy vẻ đẹp, thanh lịch, văn minh. Những sự kiện ấy, con người ấy, của thời đại 4.0 phải hiện diện dưới ngòi bút, nốt nhạc, màu sắc của chổi cọ”.
Để khơi dậy vẻ đẹp thanh lịch, thanh minh của thủ đô. Những mẫu người ấy là những người Anh hùng sống chết với dân với đất kinh kỳ. Những người Anh hùng ấy đã khuất. Ví như Tổng đốc Hà thành, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, ví như Anh hùng liệt sĩ phá bom nổ chậm, anh là nhà khoa học về bom đạn: Đó là Hoàng Kim Giao, gốc người Hà Nội. Tuần tới được gửi sang Liên Xô tu luyện về bom đạn, nhưng tuần này, anh được Đảng ủy một xã ở Nghệ An mời về phá bom nổ chậm loại mới. Anh được cơ quan nhận lời và cử anh đi. Thế rồi anh không kịp đi tu học được nữa. Anh mất, thân thể anh dải khắp một vùng lúa, chỉ tìm thấy một chiếc giày của anh. Anh đã được nhân dân Nghệ An đúc tượng đồng, thờ ở Chuông Bồn.
Hay như liệt sĩ Vũ Xuân Thiều, đã anh dũng hy sinh trong mặt trận Điện Biên Phủ trên không ở Hà Nội, trong 12 ngày đêm. Vũ Xuân Thiều bắn 2 quả tên lửa vào máy bay B52, trượt, không trúng, hết đạn, anh lao máy bay của anh đâm thẳng vào B52, xé xác nó và anh cùng máy bay Mích hy sinh cảm tử.
Và tôi cũng tự chọn, những nhân vật không phải người anh hùng, mà là người dân thường của Hà Nội, mang đặc trưng của người kinh kỳ, nhã nhặn, ý chí, kín đáo, đằm thắm và tình cảm, hết nhường nhịn hy sinh cho gia đình, cho cá chung. Đó là tôi chọn một chị quá lứa nhỡ thì 39 tuổi mà chưa có chồng. Không phải chị ta xấu, hoặc chua ngoa đanh đá. Mà chị ta đẹp, đẹp nền nã, quyến rũ. Nhiều người hỏi chị ta đều khước từ, mà người đến hỏi chị ta làm vợ, là ông đại tá, là anh họa sĩ, là nhà doanh nghiệp giàu có, chị ta đều lắc đầu. Quê chị đang ở là làng Vòng Hậu. Nói đây nổi tiếng cốm làng vòng chị ta chưa truyền nghề được cho ai, nên không dám đi lấy chồng, sợ thất truyền nghề tổ, nên lỡ dở.
Tôi nghĩ như thế, chỉ có như thế, thì những bài viết, những vở kịch của mình, các nhân vật đều gắn bó với tác giả cho những cảm hứng nghệ thuật truyền đến đời sống trong cơ chế thị trường khắc nghiệt này. Nhân vật sẽ sống mãi không phải vào song sắt đã từng được tôn vinh công dân vàng Thủ đô.
