Sưu tầm: NSND Phạm Thị Thanh hương

Về đất tổ xem hát ví giao duyên

                                                                                                   Nguyễn Duy Cách

        Nếu như vùng đất miền Trung là nơi sản sinh ra những làn điệu hát ví Nghệ – Tĩnh, hát Dặm, hát Chèo, hát Ví đò đưa … và ở Làng Sen, quê hương của Bác Hồ kính yêu nổi tiếng về hát Ví phường vải vẫn đang được trân trọng lưu truyền và gìn giữ thì ở vùng Đất Tổ Hùng Vương, một vùng văn hóa dân gian đặc sắc, cũng có rất nhiều những giai thoại về hát Ví, hát Ghẹo, hát Tuồng, Chèo và hát Xoan (Hát Xoan đã được thế giới công nhận là văn hóa phi vật thể của nhân loại), đặc biệt là hát ví giao duyên với những giai thoại, những câu chuyện vui về Ví cho thấy trí thông minh, óc sáng tạo của nhân dân lao động, nhất là phụ nữ. Đồng thời còn có rất nhiều hình thức ca hát quen thuộc nữa như: Hát Đúm, Sa Mạc, Cò Lả, Trống Quân, Ca Trù và các loại hình hình ca hát của các dân tộc ít người như: hát Xướng của dân tộc Mường, hát Sịnh Ca và Vèo Ca của dân tộc Cao Lan, và Pao Dung hay Ay Dung của dân tộc Giao, hoặc có loại hình hát Xoong Cô của đồng bào Sán Dìu… Phổ biến nhất là Hát Ví và hát Xoan.

 Cội nguồn và nghệ thuật Hát Xoan thì đã giới thiệu ở phần trên. Còn hát Ví, một loại hình dân ca phổ biến mà mọi người đều tham gia và đều biết hát, loại hình này không đòi hỏi những điều kiện phức tạp về địa điểm, về thời gian và cũng không bị ràng buộc bởi các tục lệ, kỵ hèm. Hát Ví là một hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian rất phổ biến trước hết trong dân tộc Kinh và sau nữa đến các dân tộc ít người sống trên vùng Đất Tổ Hùng Vương. Nó phản ánh khá chân thật tình cảm của con người. Là loại hát giao duyên của trai gái, nên hát Ví có thể hát quanh năm trong mọi lúc, mọi nơi.

        Sách Địa chí Vĩnh Phúc còn chép: “Ở huyện Thanh Ba, Phú Thọ, có một anh lính lệ đứng chơi trước mấy quán hàng gần lối vào chợ huyện. Một cô gái dáng người nhỏ nhắn, gương mặt xinh đẹp, quang gánh đi qua. Anh lính lệ cao hứng giữ đôi quang gánh của cô gái lại, rồi cất lời chọc ghẹo … Không ngờ, cô gái cũng chẳng phải tay vừa. Thấy anh lính kia đùa dai, cô gái liền đốp chát mấy câu … Có cái ba vạn đây này, chợ trưa dưa héo mà còn đùa dai ”. Anh lính lệ bị bẽ mặt chỗ đông người liền nắm chặt tay cô gái, bắt hát Ví một câu “ba vạn” mới tha cho đi. Cô gái chót nhỡ lời, mỉm cười, nghĩ một lát rồi nhẹ nhàng cất tiếng: “Ba vạn là chín nghìn người. Đôi bên hàng xứ đứng cười đôi ta”.

      Mọi người đều cười và khen ngợi sự nhanh trí của cô gái. Anh lính lệ kia cũng chịu câu hát giải vây là khéo, thích thú nhất là hai tiếng “đôi ta”, liền buông tay để cho cô gái đẹp vào chợ.

       Chuyện còn kể một anh Thừa phái Phủ Lâm (thuộc huyện Phong Châu, Phú Thọ) cũng rất ham Ví. Có lần anh ta đến xã Xuân Lũng tìm hát Ví với chị em thợ cấy lúa, một chị hát chọc một câu rằng: “Hôm nay mới gặp anh Thừa/ Của em còn thiếu anh thừa cho xin”. Câu hát dùng lối chơi chữ khá sắc sảo trên, vừa để châm chọc thầy Thừa phái Phủ Lâm, lại vừa chế giễu rất cay chua khi ví cái “của em” với cái chức vụ “Thừa” của thầy. Từ đó, thầy Thừa cạch không dám xông vào các đám hát Ví nữa.

       Hát Ví cũng có mùa, mùa xuân thường hát vào tháng Giêng, mùa thu thì vào tháng Tám. Trong hội làng, hát Ví thường được tổ chức vào ban đêm. Ai qua tuổi thanh niên đều biết và thuộc những làn điệu hát Ví. Chẳng có huyện nào ở vùng Đát Tổ xưa mà không có những làng Ví nổi tiếng một vùng.  Hát Ví giống như hát Sa Mạc, Cò Lả, Trống Quân ở chỗ giai điệu đơn giản, khoan thai, khi trầm, khi bổng theo các thanh (các dấu, nhưng về lời ca thì rất phong phú). Nội dung lời ca của hát Ví bóng bảy, giàu hình tượng, gắn với thiên nhiên, với lao động sản xuất và đời sống sinh hoạt hàng ngày, đồng thời cũng biểu hiện được cảm xúc hồn nhiên, chân thành của người lao động.

       Hát Ví hầu hết là trữ tình, phản ánh cụ thể những chặng đường của tình yêu trai gái phù hợp với nhân sinh quan tích cực của người lao động như: Gặp gỡ – làm quen – ướm hỏi – ngỏ lời – ưng thuận – thề nguyền – nhớ mong – giận hờn – oán trách - đợi chờ – tin tưởng. Hát Ví không có bài bản sẵn, cho nên đòi hỏi người hát phải có tài ứng khẩu, đối đáp kịp thời và sinh động. Thường các cuộc hát Ví phải qua các chặng đường như: Hát vào cuộc (thường là mời chào, thăm hỏi và làm quen).  Hát lỡm, hát chua, hát nghịch. Hát đố, họa về trăng, gió, thiên nhiên. Hát se kết giao duyên và hát chia tay.

       Đặc biệt hát Ví ở xã Sơn Vi, tên Nôm là Kẻ Vầy, nay thuộc huyện Phong Châu, Phú Thọ là một trong các xã cổ, nơi phát hiện ra nền văn hóa Sơn Vi cách đây trên 20.000 năm. Nghề chính ở xã Sơn Vi là làm ruộng. Đời sống của nhân dân rất vất vả, trên đồi thì bị đá ong hóa, còn ở dưới đồng thì chiêm khô mùa thối:  “Sơn Vi sớm ốc chiều cua/ Quanh năm vất vả mà chưa hết nghèo”.

       Mặc dầu hoàn cảnh khó khăn như thế, nhưng nhân dân xã Sơn Vi vẫn tự hào về quê hương mình một đời sống văn hóa tinh thần độc đáo là hát Ví. Hằng năm cứ vào dịp đầu Xuân và mùa Thu theo Âm lịch, từ tuần trăng mát mẻ của đầu mùa Thu đến hết tháng Tám, nam nữ thanh niên ở đây lại tổ chức các buổi hát Ví. Hai bên nam nữ đứng cách xa nhau khoảng chừng vài chục mét. Nhân dân đứng xung quanh để xem và cổ vũ. Vào cuộc hát, bên nữ cất tiếng hát trước bài Lập đám: Đôi ta lập đám chơi đây/ Ai phá đám  này về ốm tương tư.

       Như đã  nói ở trên, Hát Ví thường phải ứng khẩu, đối đáp nhanh và phải đúng với lời hỏi của đối phương. Nếu không đáp được thì bên đó coi như bị thua. Vì vậy mỗi bên đều phải chọn người đại diện ra hát để trả lời. Người đại diện có giọng hát hay và phải đối đáp giỏi. Ví dụ như hát mời nhau ăn trầu, nữ hát: “Vôi tàu nên miếng trầu này/ Dù mặn dù nhạt dù cay dù nồng/ Dẫu chẳng lên điệu vợ chồng/ Xơi dăm ba miếng kẻo lòng nhớ thương”. Nam hát:“Cầm lược thì nhớ đến gương/ Cầm khăn nhớ túi đi đường nhớ nhau/ Cầm trầu lại nhớ đến cau/ Cầm bấc nhớ dầu, cầm chỉ nhớ kim. Sắp tan buổi hát, những anh con trai có vợ hay đã có người yêu, sợ bạn ghen vì mình đã hát ghẹo người yêu của bạn, nên phải hát ruỗi ra: “ Cợt vậy mà thôi. Bỡn vậy mà thôi/ Áo ai người mặc có mùi gì đâu?”.  Các cô gái cũng đáp lại một cách tế nhị. Hát rằng: Cợt vậy mà thôi. Bỡn vậy mà thôi/ Chồng em như nén vàng đôi ở nhà”. Khi kết thúc buổi hát, nếu ngày mai lại tiếp tục hát thì họ lại hẹn nhau:Ta về ta bẻ cành lá cắm cây/ Đêm mai ta cứ chốn này ta chơi”.

       Hình thức và đối tượng hát Ví có thể thay đổi khác nhau tùy nơi, tùy lúc, nhưng nội dung cuộc hát Ví nào cũng không ngoài tính trữ tình, phản ánh tình yêu chân thành phong phú của đôi trai gái ở vùng Đất Tổ.

       Còn Ví đồi chè là loại dân ca đặc biệt của người dân ở huyện Thanh Ba, họ vừa hái chè vừa hát Ví với nhau ở ngay trên nương chè. Thí dụ như câu người nam hát: Lạ lùng ta mới tới đây/ Thấy chè thì hái biết cây ai trồng/ Chè đâu thơm lạ thơm lùng/ Thơm cả người hái, người trồng cũng thơm”. Người nữ hát tiếp: “Chàng về em vẫn trông theo/ Trông nước nước chảy, trông bèo bèo trôi”.

       Ngoài ra còn có Ví ống là một hình thức hát Ví cũng rất độc đáo. Người tham gia có thể ngồi ở nhà mình hát vào ống tre được bịt kín một đầu bằng da ếch, ở giữa buộc sợi chỉ dài nối với ống tre của người bên kia. Cuộc hát cứ tiếp tục lặng lẽ như vậy, nhưng không kém phần say sưa và lý thú.

        Có thể nói, từ vùng Đất Tổ Hùng Vương, đã sản sinh ra một nền văn hóa dân gian vô cùng phong phú, bao gồm nhiều thể loại: Ca dao tục ngữ, truyện kể truyền miệng, ca nhạc, mỹ thuật, trò diễn, phong tục tập quán, lễ thức gia đình và xã hội … Thể loại nào cũng đậm đà tính dân tộc, giàu màu sắc địa phương, vừa bảo lưu được nhiều yếu tố thô sơ cổ truyền, vừa tiếp thu có sáng tạo những tinh hoa của các vùng văn hóa láng giềng. Trong đó hát Ví giao duyên ở vùng Đất Tổ hôm nay vẫn luôn luôn được trân trọng, nâng niu gìn giữ, lưu truyền đến hôm nay và mai sau.