Sưu tầm: Trần Văn Đức

Vì sao sân khấu thiếu vắng vở diễn đề tài hiện đại?

                                                                                           Phạm Thu Hương

         Sân khấu luôn đồng hành cùng đời sống của nhân dân và cuộc hội thảo này hẳn không ngoài mục đích hướng tới khán giả với mong muốn sân khấu luôn mang hơi thở cuộc sống.

Có thể nói, đề tài trong tác phẩm sân khấu chỉ là đối tượng và vấn đề phản ánh nhưng chính đề tài lại là điều khán giả quan tâm bên cạnh chủ đề tư tưởng bởi những gì diễn ra trên sàn diễn có liên quan hay xa lạ với điều mình nghĩ và thấy. Nhưng có điều lạ, trong thời 4.0 hiện nay với rất nhiều cái mới đã ra đời nhưng các vở diễn sân khấu vẫn quẩn quanh với sân khấu lịch sử, dã sử “lấy xưa nói nay” tính theo tỉ lệ trong các vở diễn đã ra đời.

Tại các liên hoan sân khấu toàn quốc, tỉ lệ vở diễn lịch sử, dã sử, phóng tác từ truyện cổ, vẫn chiếm áp đảo các vở diễn về đề tài hiện đại, nhất là đề tài đương đại về cuộc sống quanh chúng ta hôm nay.

          Cụ thể, tại Liên hoan Chèo toàn quốc năm 2019, trong 26 vở diễn tham dự, chỉ có 8 vở hiện đại. Tại Liên hoan Kịch nói toàn quốc 2021, trong 18 vở diễn tham dự, chỉ có 5 vở đương đại nhưng 5 vở chủ yếu về chống tham nhũng khi mà cuộc sống hôm nay không chỉ có mỗi chống tham nhũng.

Thực ra, vở diễn đề tài hiện đại không phải không có những vở xuất sắc, rất thành công nhưng tỉ lệ trong kịch mục sấn khấu hiện nay quá lép vế đúng là điều đáng báo động. Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa dựng vở lịch sử, dã sử là không nên vì thể loại này lại thích hợp với không ít loại hình truyền thống như tuồng, chèo, cải lương… và dựng các vở lịch sử cũng là một lần nhắc nhớ về lịch sử của dân tộc, nhằm phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần anh dũng trong kháng chiến, năng động vươn lên trong thời hiện đại.

Và dù là tác phẩm về đề tài lịch sử hay hiện đại, để viết hay đều rất khó. Tuy nhiên, số lượng quá lớn các vở diễn lịch sử, dã sử được dàn dựng lại đặt ra cho sân khấu ngày nay những vấn đề cần bàn luận, cần giải quyết. Buồn nhất là với sân khấu kịch nói, một loại hình đi vào mũi nhọn của cuộc sống mà cũng trốn trong lịch sử, dã sử, né tránh hơi thở cuộc sống hôm nay. Sự heo hắt đề tài hiện đại trong tỷ lệ cần khác hơn trong kịch mục.

Bởi nhiệm vụ của VHNT là phản ánh cuộc sống mới, con người mới. Các vấn đề như biển đảo, các tệ nạn xã hội đang làm băng hoại các giá trị đạo đức, sự suy đồi đạo đức, đặt trọng giá trị tiền bạc lên trên nhân phẩm… rất cần các nhà viết kịch, các nhà hát bắt tay vào dàn dựng tác phẩm. Tiếc là, sân khấu đang tỏ ra lạc điệu, chậm chạp với sự chuyển biến rất nhanh của đời sống xã hội. Đặc biệt là sự ảnh hưởng của khoa học công nghệ đã làm thay đổi rất nhiều lối sống, suy nghĩ, tình cảm của con người hình như chưa thấy hiện hiện rõ trong diện mạo sân khấu hôm nay.

          Là nhà báo ngoại đạo nhưng quan tâm tới sân khấu, tôi thấy rằng, so với vở diễn lịch sử, dã sử, vở diễn đề tài hiện đại gây nhiều khó khăn hơn cho đội ngũ tác giả vì phải bắt đầu từ con số 0, tức là phải nghĩ từ đầu tới cuối, tạo ra một cốt truyện, hình tượng nhân vật, tình tiết, sự kiện… Trong khi đó, kịch lịch sử, dã sử, minh hoa truyện cổ đã có sẵn có câu chuyện, nhân vật, tình tiết, thậm chí cả cách giải quyết xung đột để viết. Điều vô lý hơn, dù khó khăn hơn trong xây dựng nội dung cốt truyện nhưng các kịch bản hiện đại lại có thù lao ngang bằng với kịch bản lịch sử, dã sử. Đây là một trong nhiều lý do khiến cho các vở diễn về lịch sử dã sử được chú trọng vì dễ hơn, không mất nhiều công sức chăng khi mà tiền thù lao cũng không hề thua kém với sự lao động vất vả hơn.

          Một lý do khác khiến vở diễn lịch sử có số lượng áp đảo so với vở diễn đề tài hiện đại là do các nhà hát cũng có nhu cầu dựng những vở “mượn xưa nói nay” vì độ an toàn trong cấp phép và kiểm duyệt chăng. Chuyện đã xảy ra ghi thành sách có khung, có đáp số trong khi những vấn đề cuộc sống hôm nay nhiều khi nhạy cảm, đúng sai chưa rõ.

Một năm, một nhà hát chỉ dựng 3 đến 4 vở, do vậy không gì an toàn hơn là chọn vở dã sử, lịch sử, vừa không đụng chạm tới các vấn đề nhạy cảm lại rất dễ được hội đồng nghệ thuật thông qua. Vở nào dựng xong được cấp phép vở nấy, không mấy vở phải tạm dừng hay bị từ chối cấp phép. Phải chăng vì điều này mà sân khấu bấy lâu nay khá im ắng, hiền lành, không mấy vở được ra mắt mà khiến khán giả phải sôi sục đi săn vé.

Và cũng vì tập trung nói về những cái xưa cũ, cái đã qua mà không mấy vở đề cập tới cái hiện tại và tương lai của đời sống nên đã có không ít ý kiến cho rằng, sân khấu hiện nay chỉ dành cho người thích hoài niệm, hay cụ thể là người già, người cao tuổi.

Trong khi, khán giả có nhu cầu thưởng thức các vở diễn phán ánh không khí của ngày hôm nay và mang tính dự báo trong tương lai, thì sân khấu lại né tránh nhu cầu này của khán giả. Những vở diễn của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ như “Lời thề thứ 9”, “Tôi và chúng ta”… gắn liền với một thời vàng son của sân khấu chẳng phải là những vở diễn như thế hay sao?

Vì thế, để có được những vở diễn hiện đại có sức sống lâu bền, cái cốt lõi cần có là kịch bản hay mang đậm hơi thở cuộc sống. Mà muốn có điều này, chỉ hô hào chưa đủ nên rất cần nhà nước, thành phố cần có cơ chế, chính sách đãi ngộ, khuyến khích các tác giả đi vào phản ánh cuộc sống đương thời bằng việc đầu tư cho sáng tạo, tổ chức các trại sáng tác chuyên về kịch bản hiện đại, tổ chức các cuộc thi tìm kiếm kịch bản hay về đề tài hiện đại, đặc biệt là đương đại.

Đồng thời, chế độ trả nhuận bút cần xứng đáng với công sức mà tác giả đã bỏ ra đi tìm hiểu thực tế, không minh họa truyện trên báo bằng các nhân vật thoại với nhau. Chuyện cần được viết sâu sắc, có cốt truyện rõ ràng, có tính tư tưởng và thông điệp nhân văn. Bên cạnh đó, lãnh đạo các nhà hát cần dũng cảm đi tìm kịch bản mới có nhiều phát hiện thú vị. Nếu việc dựng cứ sa đà vào những cái an toàn, nói về những chuyện đã qua thì kịch lịch sử sẽ tiếp tục lấn át, và đây cũng là một cách khiến cho sân khấu tiếp tục rơi vào suy thoái, chậm nhịp với đời sống. Sự mạnh dạn đổi mới sẽ mang lại cho sân khấu một bộ mặt mới, tươi tắn và “bắt mắt” hơn.